Sự ra đời “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” đã châm ngòi cho các cuộc tranh luận kéo dài nhiều thập kỷ của các nhà kinh tế học, xã hội học, triết gia, học giả trên thế giới… Kết quả là, hầu hết các học giả, kể cả những học giả, chính trị gia đại diện của chủ nghĩa tư bản đều khách quan nhìn nhận rằng, học thuyết Mác vẫn ở đỉnh cao của trí tuệ loài người, mà trong đó “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” là ngọn cờ dẫn dắt giai cấp công nhân và nhân dân lao động đấu tranh, giải phóng loài người khỏi áp bức, bóc lột.

Lê-nin những ngày đầu cách mạng

Tranh luận xung quanh bản Tuyên ngôn cũng có những ý kiến cho rằng, tác phẩm nêu lên những nguyên lý hoàn toàn đúng, nhưng mới chỉ là gợi ý, dự báo mà còn để ngỏ sự tìm tòi, sáng tạo. Đồng thời kiến nghị việc tiếp nhận “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” không phải như một tín đồ, mà phải với thái độ phê phán khoa học, vận dụng sáng tạo, bổ sung, phát triển cho phù hợp với cuộc sống không ngừng thay đổi…

Tuy nhiên, không chỉ có những cuộc tranh luận, nghiên cứu khách quan khoa học, mà còn có những người đội lốt tổ chức này, tổ chức khác, tự phong cho mình là những “chiến sĩ” tiên phong trên mặt trận chống cộng, đã không ngớt công kích chủ nghĩa Mác và “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, cho rằng học thuyết của Mác đã lỗi thời! Đáng tiếc trong “đội quân” ấy lại có cả những người với kiến thức, sự hiểu biết về lý luận Mác còn “xôi đỗ” cũng nhảy vào “đấu tranh” với thái độ hằn học, rất thiếu thuyết phục. Điển hình phải kể đến những bài viết mang tựa đề “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản: một bản tuyên ngôn phi khoa học”(!) mới được phát tán trên mạng in-tơ-nét gần đây của một số phần tử chống chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Những tác giả của các bài viết này bộc lộ sự yếu đuối trong học thuật và phi khoa học ngay từ những câu mở đầu “Suốt hai năm qua chúng tôi vùi đầu đọc lại ngót 60 cuốn sách dày cộp bộ toàn tập Mác-Ăng-ghen, Lê-nin với tâm thế của một nhà nghiên cứu, nhà khoa học, hơn là lối cảm thụ của một nhà văn. Trước hết, chúng tôi xin phê bình cuốn Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản…”.

Cả một loạt các tác phẩm đồ sộ của ba nhà khoa học thiên tài, ba nhà cách mạng vĩ đại kế thừa triết học cổ điển Đức, kinh tế chính trị Anh và chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp viết nên - xây dựng thành một học thuyết được đánh giá là tiến bộ nhất trong lịch sử loài người cho đến nay, mà những người phê phán lại chỉ “vùi đầu” vào hai năm (cứ tin là có đọc hai năm), thì thảo nào chả vấp vào chủ quan, phiến diện trong nhận xét đánh giá. Họ viết: “Mác, trong biện giải thường nguỵ biện và thiếu lô-gích, áp đặt những ý kiến chủ quan của mình lên tất cả các sự vật”.

Nói Mác áp đặt ý kiến chủ quan của mình lên tất cả các sự vật, thì ngay cả những thế lực đối địch với chủ nghĩa Mác cũng khó có thể chấp nhận. Chúng ta đều biết “xương sống” trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” chính là phép biện chứng, nhằm dự báo có tính khoa học, trên cơ sở tôn trọng hiện thực khách quan với nguyên tắc mọi hiện tượng, sự việc chỉ có thể tồn tại trong trạng thái vận động không ngừng của một thế giới vận động không ngừng.

Phép biện chứng trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, được thể hiện ngay trong nhận định, đánh giá khách quan về giai cấp tư sản: “Bản thân giai cấp tư sản hiện đại cũng là sản phẩm của một quá trình phát triển lâu dài, của một loạt các cuộc cách mạng trong phương thức sản xuất và trao đổi. Mỗi bước phát triển của giai cấp tư sản đều có một bước tiến bộ chính trị tương ứng… Chính giai cấp tư sản là giai cấp đầu tiên đã cho chúng ta thấy hoạt động của loài người có khả năng làm được những gì” và “Giai cấp tư sản trong quá trình thống trị giai cấp chưa đầy một thế kỷ, đã tạo ra những lực lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của tất cả các thế hệ trước kia gộp lại”...

Dự báo chủ nghĩa xã hội sẽ thay thế chủ nghĩa tư bản, hoàn toàn không phải là suy nghĩ chủ quan của Mác. Mác đã phát hiện ra quy luật phát triển tất yếu của xã hội loài người là sự vận động, phát triển, thay thế lẫn nhau của các hình thái kinh tế-xã hội. Xã hội tư bản do hết tính tất yếu lịch sử cũng sẽ không tránh khỏi bị thay thế bởi hình thái kinh tế-xã hội cao hơn, đó là xã hội cộng sản mà giai đoạn đầu là chủ nghĩa xã hội. Cũng giống như việc chế độ phong kiến thay thế chế độ nô lệ, chế độ tư bản thay thế chế độ phong kiến…

Một hình thái kinh tế-xã hội phát triển được Mác đúc kết từ những tinh hoa của mọi thời đại lịch sử, sao lại nói là “ngụy biện và thiếu lô-gích”?

“Xóa bỏ tư hữu” cũng là vấn đề “nóng” mà những người chống đối đưa ra để chứng minh, cho rằng “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” “phi khoa học”. Họ lập luận: “Khi ông (Mác-NV) chủ trương xóa bỏ chế độ tư hữu tức là ông đã xóa bỏ chính cá nhân, xóa bỏ chính mỗi con người, xóa bỏ chính ông, xóa bỏ chính gia đình ông…”. Xin thưa rằng, nghiên cứu “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” mà lẫn lộn giữa cái cụ thể và cái tổng thể, giữa bản chất và hiện tượng như thế thì thật là quá đơn giản, nếu như không muốn nói là ấu trĩ.

Trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, Mác đã dành gần như toàn bộ chương 1 để phân tích một cách khách quan sự phát triển của xã hội loài người và khẳng định “giai cấp tư sản đã đóng một vai trò hết sức cách mạng trong lịch sử”. Nhưng Mác cũng chỉ rõ mâu thuẫn cơ bản của xã hội tư bản là mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất ngày càng xã hội hóa cao với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa đối với tư liệu sản xuất. Còn phương thức bóc lột của tư bản với người lao động là bóc lột giá trị thặng dư, dẫn đến đấu tranh giai cấp… Nghĩa là, xóa bỏ tư hữu tư bản theo quan điểm của Mác thực chất là xóa bỏ tư hữu về tư liệu sản xuất, chứ không phải “tư hữu” theo cách hiểu không đúng của những người chống đối cho là “xóa bỏ chính lịch sử bản thân mình và lịch sử xã hội loài người”. Ngay trong Tuyên ngôn đã giải thích: “Đặc trưng của chủ nghĩa cộng sản không phải là xóa bỏ chế độ sở hữu nói chung, mà là xóa bỏ chế độ sở hữu tư sản”. Vì sao phải xóa bỏ chế độ sở hữu tư sản? Vì tư sản chiếm hữu tư liệu sản xuất, thông qua tư liệu sản xuất để bóc lột người lao động bằng giá trị thặng dư.

Cũng phải nói thêm rằng, không phải Mác “chủ trương xóa bỏ chế độ tư hữu” mà ông chỉ là người phát hiện ra quy luật tất yếu đó.

Lý luận của Mác không chỉ đúng trong lý thuyết mà còn được thực tiễn chứng minh. Chúng ta đều biết, càng ở những nước tư bản giàu có thì sự phân hóa giàu nghèo, chênh lệch trong thu nhập càng xa. Hơn 80% thu nhập của thế giới lại nằm trong tay 20% số dân giàu nhất hành tinh. Trong khi đó, 20% số dân nghèo nhất chỉ được hưởng 1,4%...

Vẫn một lối nói hằn học, áp đặt thiếu căn cứ, những phần tử chống đối còn cao giọng cho rằng, “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” đã xóa bỏ lịch sử, xóa bỏ ký ức của nhân loại và tử hình các tư tưởng nhân văn của cách mạng tư sản Pháp; phương pháp luận biện chứng của Hê-ghen…(!).

Họ viết: “Khi Mác dạy những người cộng sản đầu tiên muốn làm cách mạng là phải xóa bỏ chủ nghĩa nhân văn của văn minh Hy Lạp, La Mã, thì lấy đâu chữ mà viết, lấy đâu ý niệm về nền cộng hòa, về nền triết học huy hoàng Hy-La mà diễn giải các khái niệm, các tiền đề triết học cho Mác viết “Tư bản luận?...”.

Xin hỏi những người cộng sản và cả những người chưa phải là cộng sản, chúng ta có bao giờ nghe, hay đọc một câu nào trong lý luận Mác nói như họ viết ở trên? Ngược lại, Mác và các cộng sự của ông không những không xóa bỏ mà còn dựa hẳn vào các nền văn minh của nhân loại, nghiên cứu thấu đáo không chỉ nền triết học cổ đại mà là hầu hết các trường phái triết học để tìm ra quy luật phát triển của loài người…

Tưởng chỉ có ấu trĩ trong cách lập luận đánh giá, nhưng càng đọc mới càng thấy sự thiếu hiểu biết về lý luận của những người phê phán “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, khi họ viết: “Xóa bỏ tư hữu đầu tiên là ông Mác phải xóa chính ông, phủ nhận chính ông, xuống bếp cầm dao lên để tự đâm chết mình mới có thể giải quyết vấn đề “mình tư hữu thân xác mình”. Nhưng ông Mác đâu dám tự sát vì ông đang đói bụng, đang thèm sở hữu đồ ăn…”.

Lối nói chợ búa, hàng cá hàng tôm như thế mà họ dám mạo nhận khi “vùi đầu” vào đọc sách lý luận của Mác, họ mang “tâm thế của một nhà nghiên cứu, nhà khoa học, hơn là lối cảm thụ của một nhà văn…”.

Mọi sự tranh luận mang tính khoa học về Chủ nghĩa Mác nói chung, “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” nói riêng đều rất cần thiết. Nó làm sáng tỏ hơn chân lý bền vững của Chủ nghĩa Mác, đồng thời còn chỉ ra những hạn chế để tiếp tục bổ sung, phát triển. Đúng như Mác và Ăng-ghen viết lời tựa cho bản tiếng Đức xuất bản Tuyên ngôn năm 1872: “Chính ngay “Tuyên ngôn” cũng đã giải thích rằng, bất cứ ở đâu và bất cứ lúc nào, việc áp dụng những nguyên lý đó cũng phải tùy theo hoàn cảnh lịch sử đương thời, và do đấy, không nên quá câu nệ vào những biện pháp cách mạng nêu ra ở cuối chương II. Đoạn này, ngày nay mà viết lại thì về nhiều mặt cũng phải viết khác đi”. Các ông lý giải lý do không sửa lại vì: “Tuyên ngôn là một tài liệu lịch sử mà chúng tôi không có quyền sửa lại” (C. Mác và Ph. Ăng-ghen: TT, NXB CTQG Sự thật, Hà Nội 1995, tập 18, tr 128).

Tuy nhiên, bên cạnh việc khuyến khích những tranh luận mang tính xây dựng, lại phải kiên quyết lên án, phản đối những người cố tình bôi nhọ Chủ nghĩa Mác, cũng như xuyên tạc “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, như những việc họ đã phủ nhận Tuyên ngôn một cách hằn học với ý đồ xấu.

Sự chống phá của các thế lực thù địch càng cho thấy, chúng ta phải tích cực nghiên cứu, học hỏi để hiểu thấu đáo Chủ nghĩa Mác nói chung, “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” nói riêng, để vận dụng sáng tạo vào cuộc sống, sửa chữa những nhận thức sai, vượt qua những luận điểm trước kia đúng nhưng nay không còn phù hợp với thực tiễn cuộc sống.

Gần 80 năm qua, kể từ ngày thành lập, Đảng ta đã lấy Chủ nghĩa Mác Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam cho mọi hành động, lãnh đạo toàn dân giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác, nhất là hơn 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước đã mang lại những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử. Kết quả đó chính là sự vận dụng sáng tạo lý luận Mác vào thực tiễn cách mạng nước ta.

HUY THIÊM