Khẳng định trách nhiệm, nguyên tắc nhất quán của Việt Nam

Trong những năm gần đây, tình hình an ninh, chính trị thế giới diễn biến hết sức phức tạp, chịu tác động đan xen của nhiều sự kiện lớn mang tính toàn cầu và khu vực. Trong bối cảnh đó, VKHDHL được một số quốc gia coi là công cụ răn đe chiến lược; nhiều quốc gia, tổ chức khủng bố và các chủ thể phi nhà nước tìm mọi cách sở hữu, nghiên cứu, phát triển... Điều này không chỉ làm gia tăng bất ổn, cạnh tranh và đối đầu chiến lược giữa các quốc gia mà còn tác động mạnh mẽ, sâu sắc đến cấu trúc an ninh toàn cầu, làm suy giảm hiệu quả các cơ chế kiểm soát, không phổ biến VKHDHL, đặt ra những thách thức mới đối với công tác phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý các nguy cơ phổ biến, tài trợ phổ biến VKHDHL. Bên cạnh đó, sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ cũng tiềm ẩn nguy cơ bị lợi dụng cho mục đích nghiên cứu, chế tạo, phát triển VKHDHL, đặt ra những thách thức lớn đối với an ninh, an toàn của từng quốc gia, trong khu vực và thế giới.

Cục Pháp chế, Bộ Quốc phòng tổ chức Hội nghị tham vấn hồ sơ chính sách xây dựng dự án Luật Phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt vào ngày 23-1-2026. Ảnh: HUYỀN TRANG 

Trong bối cảnh đó, Việt Nam luôn nhất quán thực hiện nguyên tắc không phổ biến VKHDHL; tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia; bảo đảm minh bạch trong việc sử dụng vật liệu hạt nhân, tác nhân sinh học và hóa học vì mục đích hòa bình. Nhà nước Việt Nam nghiêm cấm mọi hành vi nghiên cứu, phát triển, sản xuất, tàng trữ, sử dụng, phổ biến và tài trợ phổ biến VKHDHL; đồng thời, triển khai đồng bộ các biện pháp phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực này.

Ngày 11-11-2019, Chính phủ ban hành Nghị định số 81/2019/NĐ-CP về phòng, chống phổ biến VKHDHL, đây là khuôn khổ pháp lý bước đầu cho hoạt động phòng, chống phổ biến VKHDHL ở Việt Nam. Qua hơn 6 năm triển khai thực hiện, nhận thức và năng lực của các cơ quan, tổ chức, cá nhân từng bước được nâng cao; tổ chức bộ máy và cơ chế phối hợp liên ngành bước đầu được hình thành; việc thực hiện các nghĩa vụ quốc tế, kiểm soát hoạt động liên quan đến hàng hóa lưỡng dụng và phòng ngừa tài trợ phổ biến VKHDHL đạt được những kết quả quan trọng, góp phần giữ vững an ninh, an toàn xã hội và bảo đảm lợi ích quốc gia.

Tuy nhiên, thực tiễn thi hành cho thấy, các quy định pháp luật hiện hành vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập. Việc điều chỉnh chủ yếu bằng văn bản dưới luật làm giảm tính ổn định, hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước; nhiều quy định mới dừng ở mức nguyên tắc, chưa cụ thể hóa đầy đủ các hành vi bị cấm, chưa thiết lập được cơ chế kiểm soát thống nhất đối với hàng hóa, vật liệu, thiết bị và công nghệ lưỡng dụng; cơ chế phối hợp liên ngành và công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm còn thiếu tính ràng buộc pháp lý. Xuất phát từ những yêu cầu trên, việc xây dựng Luật Phòng, chống phổ biến VKHDHL là hết sức quan trọng, cần thiết nhằm hoàn thiện cơ sở pháp lý thống nhất, đồng bộ, có hiệu lực pháp lý cao, bảo đảm tính ổn định, khả thi và phù hợp với thông lệ, chuẩn mực quốc tế, nhất là Nghị quyết 1540 của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc ban hành ngày 28-4-2004.

3 chính sách xây dựng luật

Thực hiện chỉ đạo của Bộ Quốc phòng, Cục Pháp chế tích cực phối hợp với Binh chủng Hóa học và các cơ quan, đơn vị liên quan triển khai xây dựng dự án Luật Phòng, chống phổ biến VKHDHL theo đúng tiến độ đề ra. Trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá toàn diện các vấn đề và những yêu cầu, đòi hỏi của các thỏa thuận quốc tế, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, Cục Pháp chế-cơ quan chủ trì soạn thảo đề xuất xây dựng 3 chính sách để lấy ý kiến góp ý, tham vấn, phản biện của các cơ quan, đơn vị liên quan và các chuyên gia, từ đó hoàn thiện hồ sơ chính sách của dự án Luật Phòng, chống phổ biến VKHDHL. Cụ thể:

- Chính sách 1: Xây dựng khung pháp lý thống nhất về phòng, chống phổ biến VKHDHL, hướng tới các mục tiêu: Thứ nhất, thiết lập khung pháp lý thống nhất ở cấp luật để điều chỉnh toàn diện hoạt động phòng, chống phổ biến và tài trợ phổ biến VKHDHL. Thứ hai, khắc phục tình trạng quy định pháp luật phân tán, hiệu lực pháp lý chưa cao; nâng cao tính thống nhất, minh bạch và khả thi của hệ thống pháp luật. Thứ ba, tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước, năng lực phòng ngừa, phát hiện và xử lý các nguy cơ phổ biến VKHDHL. Thứ tư, bảo đảm thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế của Việt Nam theo điều ước quốc tế và nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc.

- Chính sách 2: Quản lý, kiểm soát các hoạt động có nguy cơ dẫn đến phổ biến VKHDHL. Chính sách này tập trung vào quản lý, kiểm soát các hoạt động có nguy cơ, trên cơ sở tiếp cận phòng ngừa, kiểm soát rủi ro từ sớm, từ xa và hướng tới các mục tiêu: Thứ nhất, thiết lập cơ chế quản lý, kiểm soát thống nhất đối với các hoạt động có nguy cơ dẫn đến phổ biến VKHDHL, phù hợp với thông lệ và chuẩn mực quốc tế. Thứ hai, nâng cao năng lực phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi phổ biến và tài trợ phổ biến VKHDHL. Thứ ba, bảo đảm hài hòa giữa yêu cầu bảo đảm an ninh quốc gia với yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội, không gây cản trở không cần thiết đối với các hoạt động sản xuất, kinh doanh hợp pháp.

- Chính sách 3: Bảo đảm hiệu lực, hiệu quả trong tổ chức thực hiện pháp luật và hợp tác quốc tế về phòng, chống phổ biến VKHDHL, hướng tới các mục tiêu: Thứ nhất, nâng cao hiệu lực, hiệu quả tổ chức thực hiện pháp luật về phòng, chống phổ biến VKHDHL. Thứ hai, xác định rõ trách nhiệm, thẩm quyền của các cơ quan nhà nước. Thứ ba, tăng cường hợp tác quốc tế, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ, cam kết của Việt Nam theo các điều ước quốc tế có liên quan về phòng, chống phổ biến VKHDHL.