1. Năm 1980, tốt nghiệp ngành triết tại Đại học Vũ Hán, Tiêu Mỹ về làm ở một nhà xuất bản văn học. Có năng khiếu vẽ, có vốn hiểu biết sâu về nghệ thuật văn chương, Tiêu Mỹ là tác giả của một số sách nghiên cứu về hội họa Trung Hoa, thư pháp và phê bình văn học. Năm 2001, Tiêu Mỹ giành được Giải thưởng văn học trẻ-một “tấm vé thông hành” để bước lên con đường danh vọng. Anh ta được điều về làm Giám đốc Thư viện Quảng Mỹ. Tại đây, được tiếp xúc với nhiều kiệt tác hội họa Trung Hoa cổ, ý đồ chép tranh thật, làm tranh giả bắt đầu được thực hiện. Sau này, theo lời khai trước tòa, “nguyên liệu” để vẽ không hề khó vì được bán công khai.

Công việc của Tiêu Mỹ chỉ là vẽ giống y hệt tranh cổ và các nhà đấu giá sẽ coi đó là “hàng thật”. Vừa là họa sĩ, vừa là nhà nghiên cứu nghệ thuật, Tiêu Mỹ nhận thấy các bức tranh thật là vô giá. Làm Giám đốc thư viện, anh ta dễ dàng “mượn” tranh thật về nhà riêng... Chép xong, cân nhắc kỹ và thừa tỉnh táo để trả tranh giả hay tranh thật thì lợi hơn, hoặc khó phát hiện hơn... Nhờ cách thức ấy, anh ta kiếm được hàng chục triệu tệ để mua 7 ngôi biệt thự làm nơi... cất giữ tranh.

Minh họa: QUANG CƯỜNG

Năm 2014, Tiêu Mỹ bị bắt do một cựu sinh viên chuyên ngành nghệ thuật phát hiện một bức tranh đấu giá có dấu hiệu đã từng được lưu ở thư viện. Sự việc được báo cho nơi có trách nhiệm và được trả lời rằng bức tranh “gốc” vẫn đang lưu. Cáo giác được chuyển tới nhà chức trách. Sự việc được hé mở. Các chuyên gia đề nghị giám định lại kho tranh... Chưa hết, cảnh sát phát hiện trong giai đoạn 2004-2011, Tiêu Mỹ đã ủy thác cho công ty đấu giá bán 125 bức tranh nổi tiếng, thu về hơn 30 triệu nhân dân tệ. Trước tòa, trả lời câu hỏi chọn loại tranh nào để chép và vì sao, Tiêu Mỹ khai chọn những tác phẩm của trường phái Lĩnh Nam vì dễ sao chép và khó phát hiện. Hơn nữa, tranh của trường phái này rất được ưa chuộng trên thị trường nghệ thuật đương đại.

2. Theo kinh nghiệm quốc tế, việc phát hiện các vụ gian lận, lừa đảo nghệ thuật tranh là rất khó khăn vì hầu hết bảo tàng hoặc nhà sưu tập đều không thừa nhận mình bị lừa. Vì nếu vậy sẽ đồng nghĩa với “sập tiệm”, tự “giảm giá trị”... Do vậy, việc cảnh giác cao độ khi mua hoặc đấu giá các sản phẩm nghệ thuật không bao giờ thừa. Bảo tàng Boijmans Van Beuningen (Hà Lan) buộc phải thừa nhận bức tranh “Bữa tối ở Emmaus” được cho là của Vermeer thực chất là một bức tranh giả do một họa sĩ có tên Meegeren vẽ vào thập niên 1930 chỉ khi chính kẻ làm giả thừa nhận. Chuyện kể rằng...

Họa sĩ Han Van Meegeren (1889-1947) rất giỏi sử dụng hỗn hợp sơn hiện đại để mô phỏng kỹ thuật tranh cổ điển, nhưng vẫn nghèo và không nổi tiếng. Nhân có cuộc tranh luận vì sao họa sĩ vĩ đại người Hà Lan-Johannes Vermeer (thế kỷ 17) không miêu tả cảnh trong Kinh Thánh, Van Meegeren liền đưa ra những tác phẩm giả mạo Vermeer. Đồ giả “thật” đến mức được một số nhà phê bình xác nhận là đúng với phong cách Vermeer trong những bức tranh về Kinh Thánh sống động. Giàu có và nổi tiếng bởi nhận được nhiều sự tán dương, vẫn chưa thỏa mãn, Meegeren tiếp tục tìm cách bán “tranh của Johannes Vermeer”. Chính lòng tham này đã báo hại anh ta. Không thể ngờ, Van Meegeren đã bán tranh cho một “trùm” Đức Quốc xã. Sau chiến tranh, những người có quan hệ với Đức Quốc xã bị coi là “kẻ phản bội Tổ quốc”, “cần được nghiêm trị”. Chẳng đặng đừng, để không bị coi việc bán tranh là hành động bán “kho báu quốc gia”, Meegeren đành thú nhận đã “vô tình bán bức tranh giả”... Hẳn nhiên, Meegeren vẫn bị buộc tội lừa đảo...

Kết hợp với nhiều sự việc làm giả khác, người ta khái quát rằng có vài kiểu lừa đảo (hội họa nói riêng và các sản phẩm nghệ thuật nói chung): Một, chủ yếu để kiếm lời, lợi dụng giá trị của những tác phẩm khan hiếm (nhất là dạng kinh điển) được săn đón. Hai, một số nghệ sĩ tạo ra các tác phẩm giả mạo để được công nhận, được nổi tiếng, thậm chí để chế giễu những người đã từng phủ nhận, bác bỏ tác phẩm của họ. Ba, để quảng bá (vì yêu thích, vì thân quen, vì được nhờ vả), hoặc bôi nhọ/"dìm hàng" (vì đố kỵ, ghen ghét hoặc các lý do chính trị, tôn giáo, chủng tộc...). Bốn, do vô tình, nhưng hãn hữu. Ví như trong thời gian tập sự, có họa sĩ học việc bằng cách chép tranh, thật đến nỗi có người đã mua... Lại có trường hợp “mô phỏng” nhiều tác phẩm rồi tạo ra “tác phẩm” mới theo phong cách của tác giả đó. Kiểu này được gọi là đạo phong cách. Ý định ban đầu là học tập, bắt chước, nhưng nếu vì mục đích lợi nhuận, gây tác hại xấu làm nhiễu loạn thị trường thì vẫn có thể khép tội. 

3. Từ các trường hợp trên, có thể rút ra 2 bài học cơ bản sau: Một, hầu hết các nghệ sĩ vướng tội gian lận, lừa đảo trên đều có tài năng, nhưng vì lòng tham tiền tài (muốn giàu có), vì hám danh (muốn có tên tuổi) mà phạm tội. Do vậy, việc giáo dục, bồi dưỡng tư tưởng chính trị, đạo đức luôn cần thiết như cơm ăn, nước uống hằng ngày. Hai, các nghệ sĩ có thể giỏi nghề, hiểu nghề nhưng nhiều khi lại không hiểu luật, không “sống và làm việc theo hiến pháp, pháp luật”. Trong khi đó, ở một xã hội thượng tôn pháp luật, hiểu, nắm chắc, vận dụng pháp luật không chỉ là điểm tựa mà còn là vốn tri thức cuộc sống rất quan trọng trong ứng xử, hành động. Một bài học từ các nước văn minh: Giáo dục pháp luật cho mọi công dân là cách tốt nhất để ngăn chặn, giảm thiểu, loại trừ tội phạm. Luật pháp là nền tảng để xây dựng ngôi nhà đạo đức. Nền tảng vững thì ngôi nhà khang trang, bền đẹp, không sợ bão, gió, biến động.