Song, với tinh thần dũng cảm, mưu trí, sáng tạo, lực lượng TTLL đã giữ vững "mạch máu thông tin" nối liền giữa miền Bắc với miền Nam, giữa sở chỉ huy ở đất liền với mỗi con tàu không số vượt biển chở nhân lực, vũ khí, hàng hóa chi viện cho chiến trường miền Nam.

1. Lực lượng TTLL chủ động xây dựng kế hoạch, tổ chức phương án, lực lượng, phương tiện phù hợp với tuyến chi viện chiến lược trên biển.

Ngay sau khi Đoàn 759 thành lập (ngày 23-10-1961), Cục TTLL (sau này phát triển thành Bộ tư lệnh TTLL) đã cấp cho Đoàn 759 một số điện đài vô tuyến điện bảo đảm liên lạc cho nhóm nghiên cứu vận tải quân sự của đoàn vượt Biển Đông vào Nam Bộ. Đây là bước chuẩn bị đầu tiên của lực lượng TTLL cho tuyến vận chuyển đường biển. Do phương tiện thông tin vô tuyến điện thời điểm đó chủ yếu là các máy vô tuyến điện công suất nhỏ, cự ly liên lạc ngắn, Cục TTLL đã tách một bộ phận tiểu đoàn thông tin tổng trạm sở chỉ huy cơ bản để tổ chức trạm vô tuyến điện trung gian Z18, trang bị máy phát 150W và 3 máy thu có độ nhạy cao, đặt ở đồi Mè Tre, Đồng Hới (Quảng Bình) để phục vụ liên lạc cho Đoàn 759 và một số đơn vị làm nhiệm vụ trên đất liền như Đoàn 559, 959.

Cùng với việc tổ chức bố trí lại lực lượng TTLL vô tuyến điện ở miền Bắc và miền Trung, Cục TTLL đã chi viện cho miền Nam các trang bị khí tài TTLL như điện đài 15W, máy điện thoại, tổng đài 5 cửa, pin và dây điện thoại. Năm 1964, Đoàn 759 được phát triển thành Đoàn 125. Trước yêu cầu nhiệm vụ mới, để bảo đảm kịp thời chỉ huy chặt chẽ các đội tàu vận chuyển trên biển, theo chỉ thị của Bộ Tổng Tham mưu, Cục TTLL tổ chức khu thu phát vô tuyến điện dành riêng cho Sở chỉ huy Đoàn 125, gồm các máy phát có công suất từ 50 đến 400W (loại máy P607, P645), cùng đồng bộ dàn ăng-ten định hướng tốt và các máy thu có độ nhạy cao, thu canh liên tục suốt ngày đêm. Trên dọc tuyến ven biển từ Quảng Ngãi vào Cà Mau, Cục TTLL đã lắp đặt các trạm thu phát bí mật để liên lạc với tàu, thuyền và nhận hàng từ miền Bắc vào, tạo thành một mạng vô tuyến điện rộng khắp, bảo đảm kịp thời chỉ huy, chỉ đạo vận tải bằng đường biển.

leftcenterrightdel

Nhân viên Lữ đoàn 596 (Binh chủng Thông tin liên lạc) bảo dưỡng thiết bị VSAT trên nhà giàn DK1 (tháng 5-2020). Ảnh: TRẦN NHÂN

2. Chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ, chiến sĩ thông tin ưu tú; linh hoạt, khôn khéo trong xử lý các tình huống; chấp hành nghiêm nguyên tắc, kỷ luật TTLL.

Cán bộ, chiến sĩ TTLL làm nhiệm vụ trên tàu (chủ yếu là báo vụ) của Đoàn 759, Đoàn 125 được chọn lựa chu đáo, hầu hết là đảng viên, có bản lĩnh chính trị, tinh thần trách nhiệm cao, có ý thức kỷ luật, không quản ngại gian lao nguy hiểm và đã qua thử thách, tôi luyện qua chiến đấu. Họ là những người giỏi tay nghề, tinh thông nghiệp vụ, biết xử lý các tình huống khó khăn, phức tạp, dù gặp sóng to, gió lớn vẫn thu phát tốt tín hiệu. Trên mỗi chuyến tàu không số luôn có 1-2 đồng chí báo vụ. Theo quy ước liên lạc, vào giờ nhất định trong ngày, báo vụ lên máy nhận điện của sở chỉ huy đoàn hoặc của Cục Tác chiến (Bộ Tổng Tham mưu) và chỉ được phát tín hiệu theo quy định đã được thống nhất cho từng chuyến đi. Việc ngụy trang nghi binh cho các tàu, thuyền được các chiến sĩ thông tin thực hiện bằng cách phơi lưới hoặc treo cờ địch vào ban ngày; dùng đèn pin phát tín hiệu nhận biết giữa các tàu của ta vào ban đêm... 

Điển hình công tác bảo đảm TTLL giữa sở chỉ huy ở đất liền với tàu không số giữa biển khơi đó là vào đêm 26-2-1968, Tàu 56 rời cảng A3 (Hải Khẩu) chở hơn 37 tấn vũ khí đi vào bến Lộ Giao (Bình Định). Trên tàu có 17 người, trong đó có báo vụ Nguyễn Văn Nghiệp, Nguyễn Quốc và nhân viên cơ yếu Bùi Văn Hội. Hành trình trên biển, Tàu 56 thường xuyên gặp máy bay trinh sát, tàu chiến địch bám sát khiêu khích. Song, những chiến sĩ thông tin trên tàu đã bình tĩnh, giữ vững liên lạc với sở chỉ huy ở đất liền. Tàu 56 thường xuyên nhận điện từ sở chỉ huy để điều chỉnh tốc độ, nghi binh, vòng tránh. Khi tàu vòng ra cách bờ 40 hải lý, tàu chiến của địch tăng tốc đuổi theo hòng chặn lại và còn bắn dọa, khiêu khích. Sở chỉ huy lệnh Tàu 56 đi ra hải phận quốc tế. Mặc dù hành trình của tàu luôn ở trong vòng cương tỏa kiểm soát gắt gao của địch, có thể xảy ra tổn thất, khó khăn, phức tạp nhưng với việc giữ vững TTLL, chấp hành nghiêm mệnh lệnh của sở chỉ huy, Tàu 56 vượt qua được cuộc đấu trí căng thẳng với tàu chiến, máy bay địch và quay trở về hậu cứ an toàn.

3. Bám sát tình hình thực tiễn nhiệm vụ, thường xuyên củng cố, xây dựng mạng TTLL cho tuyến vận chuyển đường biển chiến lược.

Sau “Sự kiện Vũng Rô” tháng 2-1965, Cục TTLL đã chỉ đạo Phòng Thông tin Quân chủng Hải quân nghiên cứu, tìm biện pháp thay đổi các phương án tổ chức vô tuyến điện, mật ngữ, quy ước TTLL theo tính chất nhiệm vụ của tuyến đường vận chuyển mới. Đoàn 125 tổ chức phát động các phong trào: “Giỏi một mặt, biết nhiều mặt”; “Đơn vị ba giỏi: Chỉ huy giỏi, cơ động giỏi, thông tin quan sát giỏi” nhằm nâng cao trình độ sử dụng trang bị kỹ thuật, chỉ huy hiệp đồng, cơ động, giữ vững TTLL trong chiến đấu và công tác của các đơn vị tàu.

Đầu năm 1969, lực lượng TTLL cơ bản tổ chức điều chỉnh xong mạng thông tin vô tuyến điện cho Đoàn 125 vận tải biển. Phân đội thông tin chuyên trách (B12) được trang bị các máy thu phát chất lượng cao (máy phát 601, máy thu 250, 7512) nhằm bảo đảm TTLL vững chắc cho Đoàn 125 chỉ huy các lực lượng vận tải biển. Năm 1971, Bộ Tổng Tham mưu chỉ đạo Bộ tư lệnh Hải quân chọn 5 điểm ở các đảo khu vực vịnh Thái Lan và gần Malaysia cho tàu chở hàng từ miền Bắc vào đó, rồi Quân khu 9 đưa tàu, thuyền hợp pháp ra vận chuyển hàng hóa vào bờ. Bộ tư lệnh TTLL hướng dẫn lực lượng TTLL của Quân chủng Hải quân và Quân khu 9 triển khai quy ước hợp đồng liên lạc cho từng điểm để nhận hàng.

Trong những năm 1973-1974, tình hình ở chiến trường miền Nam diễn ra ác liệt, tuyến đường chi viện trên biển gặp nhiều khó khăn, Bộ tư lệnh TTLL chủ động xây dựng kế hoạch chuẩn bị cơ sở vật chất kỹ thuật, phương án tổ chức sử dụng thông tin cho tác chiến trên các chiến trường ở đất liền cũng như lực lượng vận chuyển đường biển; cấp bổ sung máy vô tuyến điện và phương tiện khí tài thông tin cho lực lượng TTLL Quân chủng Hải quân và Đoàn 125. Mạng vô tuyến điện sóng cực ngắn và vô tuyến điện sóng ngắn được nâng cấp; triển khai thêm các trạm vô tuyến điện tiếp sức ở phía Nam. Nhờ xây dựng các cột ăng-ten đúng quy cách kỹ thuật ở một số đảo, do đó, các đài ở xa trên biển đã liên lạc thông suốt với sở chỉ huy đất liền; mạng báo động quốc gia thường xuyên bảo đảm liên lạc vững chắc với các quân khu, quân chủng và Đoàn 125. Trong hai năm 1973 và 1974, Đoàn 4 thuộc Binh chủng TTLL (đơn vị chuyên trách đào tạo báo vụ cho chiến trường) đã đào tạo gần 3.400 báo vụ, trong đó có gần 1.400 đài trưởng vô tuyến điện. Nhiều cán bộ, nhân viên báo vụ ngay sau khi đào tạo xong đã được tuyển chọn và xung phong lên đường thực hiện nhiệm vụ trên các tàu, góp phần bảo đảm thắng lợi nhiệm vụ của Đoàn tàu không số. Đặc biệt, mùa xuân 1975, trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, Binh chủng TTLL tiếp tục bảo đảm TTLL cho các tàu vận chuyển thuộc Đoàn 125 tham gia chiến đấu trên hướng biển, giải phóng các đảo thuộc quần đảo Trường Sa, đảo Cù Lao Thu, các đảo phía Nam và Tây Nam của Tổ quốc; chỉ đạo lực lượng TTLL của Quân khu 9 bảo đảm thông tin cho Đoàn 962, Đoàn S950 (Đoàn 371, G473) tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu.

Nhìn lại chặng đường lịch sử, từ thực tiễn bảo đảm TTLL phục vụ tuyến chi viện chiến lược trên biển trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã để lại những bài học kinh nghiệm quý báu trong tiến trình xây dựng Binh chủng TTLL “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”, bảo đảm TTLL “kịp thời, chính xác, bí mật, an toàn”, góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới, biển, đảo, vùng trời của Tổ quốc.

Thiếu tướng KHÚC ĐĂNG TUẤN, Tư lệnh Binh chủng Thông tin liên lạc