“Truyền thống BIDV là không quên”
Nguyên Chủ tịch Hội đồng Quản trị Phùng Thị Vân Anh đã đúc kết nghĩa tình bên trong ngôi nhà BIDV bằng một câu ngắn gọn: “Truyền thống BIDV là không quên, tấm lòng BIDV là nhớ ơn”. Câu nói ấy không chỉ là lời đẹp về truyền thống mà là nguyên tắc ứng xử được hình thành từ những năm tháng gian khó nhất.
Cội nguồn của nguyên tắc ấy là tình đồng nghiệp “thương người như thể thương thân” trong những năm chiến tranh. Tháng 5-1972, trên đường 15 Trường Sơn, liệt sĩ Ngô Văn Dũ, cán bộ Ngân hàng Kiến thiết Quảng Bình đã lấy thân mình che bom bi để bảo vệ hai nữ đồng nghiệp. Tại Hàm Rồng - Nam Ngạn, Thanh Hóa, liệt sĩ Nguyễn Văn Lới, tổ trưởng tổ xung kích cấp phát đã hy sinh khi hai đồng nghiệp cùng nhóm máu vẫn đang truyền máu cho anh. Như vậy, nghĩa tình ở BIDV không bắt đầu từ những lời tri ân hôm nay mà bắt đầu từ thời kỳ người ta sẵn sàng hy sinh vì nhau.
Vì thế, việc tưởng nhớ người đi trước ở BIDV không mang tính hình thức. Cuối tháng 12-1998, khi Phó Thống đốc NHNN Chu Văn Nguyễn (trước đó là Tổng giám đốc BIDV) qua đời, xe tang được đưa qua trụ sở BIDV. Gần 300 cán bộ Hội sở chính đeo băng tang đứng chờ hai bên đường Trần Quang Khải để tiễn Ông lần cuối. Hồi ký của bà Phùng Thị Vân Anh ghi lại một câu xúc động: “Cả 5.000 cán bộ BIDV khóc Anh.” Năm 2010, nhiều cán bộ trẻ tìm về viếng Tổng giám đốc Phạm Mai, người lãnh đạo ngân hàng giai đoạn 1976-1981, dù phần lớn chưa từng gặp ông.
Che chở người hôm nay, tri ân người hôm qua
Sự gắn bó ấy có nguyên nhân từ cách người lãnh đạo đối xử với cán bộ. Cuối thập niên 1980, khi một chi nhánh vướng vào rắc rối pháp lý, Tổng giám đốc Chu Văn Nguyễn đã nhận phần rủi ro về mình. Trong hồi ký, ông nhấn mạnh rằng người lãnh đạo phải “đứng mũi chịu sào” bảo vệ lẽ phải và bảo vệ cán bộ.
Cách ứng xử ấy tạo nên sự gắn bó hai chiều, cán bộ tin rằng khi gặp khó khăn, phía sau mình luôn có một tập thể sẵn sàng đứng ra bảo vệ. Sự quan tâm ấy không chỉ thể hiện trong những việc lớn. Có khi đó chỉ là một cuộc điện thoại lúc 9 giờ tối, khi một vị Tổng giám đốc gọi hỏi thăm một nữ cán bộ đang ốm bằng bốn tiếng giản dị: “Đau sao vậy cô?”
Lòng biết ơn còn được thể hiện bằng chính sách cụ thể. Chi nhánh BIDV Hải Dương có chủ trương “dành một số chỉ tiêu tuyển dụng cho các đồng chí thương binh; chọn con em thương binh, liệt sĩ về làm việc như một sự tri ân những người đã hy sinh xương máu”. Giám đốc chi nhánh khi ấy, ông Nguyễn Văn Tuấn là con trai duy nhất của một liệt sĩ; đến năm 2015, gia đình ông vẫn chưa tìm được mộ cha. Khi đạo lý “uống nước nhớ nguồn” được đưa vào công tác tuyển dụng, đạo lý ấy không còn dừng ở tình cảm mà đã trở thành một chính sách.
Truyền thống tri ân ấy được duy trì đến hôm nay. Nhân kỷ niệm 69 năm thành lập, tập thể lãnh đạo BIDV về dâng hương tại nhà tưởng niệm Phó thủ tướng Phan Kế Toại, người ký Nghị định số 177/TTg ngày 26/4/1957 thành lập Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam.
Đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, truyền thống “đền ơn đáp nghĩa” luôn được Đảng ta coi là giá trị cốt lõi của văn hóa Việt Nam và là nền tảng tinh thần của khối đại đoàn kết. Ở một doanh nghiệp nhà nước, cấp ủy và người đứng đầu nêu gương thực hành đạo lý ấy bằng hành động cụ thể, từ đó lan tỏa thành nếp ứng xử của cả tập thể. Đó cũng là tinh thần nêu gương mà Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đặt ra đối với cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu.
“Phương án số 0” và quyết tâm không chịu gục ngã
Nghĩa tình nội bộ của BIDV chịu thử thách gay gắt nhất trong những năm 1994-1995. Thực hiện Quyết định số 654/TTg ngày 08/11/1994 của Thủ tướng Chính phủ, BIDV phải bàn giao chức năng cấp phát vốn ngân sách cùng gần một phần ba đội ngũ cán bộ. Trong lúc tương lai còn chưa rõ, nhiều cán bộ đã chọn ở lại cùng ngân hàng vượt khó. Bà Phùng Thị Vân Anh khi ấy là Phó Tổng giám đốc được đề nghị sang làm Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước nhưng đã lựa chọn sự ở lại.
Tại Sông Bé, dư nợ của chi nhánh “chỉ còn lại 5 triệu, nguồn vốn bằng không, cán bộ chỉ còn 25 người”. Ban Giám đốc chi nhánh xây dựng “phương án số 0” coi như bắt đầu lại từ đầu. Niềm tin của họ rất giản dị: “Chúng tôi xác định mình vẫn có khách hàng nhờ uy tín của hệ thống”.
Từ niềm tin ấy, nhiều sáng kiến nhanh chóng ra đời. Những ngày giáp Tết Ất Hợi, cán bộ Phòng Nguồn vốn đã huy động được gần 500 tỷ đồng và gần 100 triệu USD. Ở Gia Lai, ông Trần Anh Tuấn triệu tập toàn chi nhánh với một quyết tâm ngắn gọn: “Chúng ta không thể chết.” Kết quả là dư nợ toàn hệ thống tăng từ 1.900 tỷ đồng cuối năm 1994 lên 3.000 tỷ đồng ngay trong quý I-1995. Sự gắn bó của cán bộ với tổ chức đã trở thành sức mạnh giúp BIDV vượt qua thử thách.
Nhìn lại những năm tháng ấy, nguyên Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết từng nhận xét cán bộ BIDV “những lúc khó thì cùng chia sẻ, cùng vượt qua, những lúc vui thì cùng vui với nhau” và đánh giá đó là cách ứng xử rất đẹp.
“Khách hàng còn khó khăn thì ngân hàng còn trăn trở”
Nghĩa tình với khách hàng được cố Chủ tịch Nguyễn Văn Doãn, Tổng giám đốc kiêm Chủ tịch Hội đồng Quản trị giai đoạn 1990-1996, đúc kết trong một câu: “Khách hàng còn khó khăn thì ngân hàng còn trăn trở.” Đó là chữ “Tình” trong “bốn chữ T” mà ông truyền lại cho nghề tín dụng: Tinh trong nghiệp vụ, tính trong hiệu quả kinh tế - xã hội, tình trong cách đối xử với khách hàng, tỉnh trước rủi ro và cám dỗ.
Tư tưởng ấy đã có từ thời Ngân hàng Kiến thiết. Chi nhánh Hải Dương từng đề ra phương châm “Tạo thuận lợi đến tối đa, giảm phiền hà đến tối thiểu”; ông Phan Minh Tuệ, Giám đốc chi nhánh giai đoạn 1963-1975, gọi các đơn vị đối tác là “bạn đường của mình”. Khi chuyển sang cơ chế thị trường, ông Nguyễn Văn Doãn khẳng định: “Chuyển sang cơ chế thị trường nhưng không phải cứ chạy theo lợi nhuận đơn thuần mà còn phải chăm lo cho dân, cho nước.” Chiến lược khách hàng năm 1997 của BIDV cụ thể hóa tinh thần ấy thành phương châm: “Khởi đầu từ khách hàng, không phải từ sản phẩm”.
Câu chuyện Hợp tác xã Duy Sơn II là một minh chứng tiêu biểu. Ông Lưu Ban Chủ nhiệm hợp tác xã ra Hà Nội gặp Tổng giám đốc Nguyễn Văn Doãn với mong muốn xây dựng một công trình thủy điện nhỏ. Không chỉ xem xét hồ sơ, ông Doãn đã trực tiếp vào tận đầu nguồn nước Duy Sơn khảo sát rồi mới quyết định. Thủ tục thông thường chỉ cho phép khoản vay 300 triệu đồng, nhưng ông đã tìm giải pháp để hợp tác xã được vay đủ 500 triệu đồng.
Nhà máy thủy điện ra đời đã tạo chuyển biến lớn cho một vùng quê từng là căn cứ cách mạng. Đến năm 1994, hợp tác xã đã trả hết nợ vay, địa phương có dư điện cho sản xuất và sinh hoạt. Người chủ nhiệm hợp tác xã nói một câu mộc mạc mà đầy nghĩa tình: “Không có Doãn thì tụi mình không có được như ri mô!” Câu chuyện cho thấy chữ tín của khách hàng nhiều khi được hình thành từ chính chữ tín của ngân hàng.
Trong thư gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng tháng 10-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh.” Với một ngân hàng thương mại nhà nước, lời dặn ấy trở thành nguyên tắc kinh doanh: Lợi nhuận của ngân hàng phải bắt nguồn từ sự phát triển của khách hàng và của nền kinh tế, không thể đi ngược lại lợi ích ấy.
Dám tin khi người khác lui bước
Nghĩa tình với khách hàng còn thể hiện ở sự dám tin. Khi Becamex cần vốn đối ứng để tham gia Khu công nghiệp Việt Nam - Singapore, BIDV đã ứng trước 5 tỷ đồng trong lúc nguồn lực của doanh nghiệp còn rất nhỏ. Khoản vốn ban đầu ấy góp phần mở đường cho một dự án sau này trở thành biểu tượng của hợp tác đầu tư. Tại thành phố Hồ Chí Minh, dự án Park Hyatt Saigon từng dở dang hơn mười năm. BIDV đã chủ trì hợp vốn cho vay tổng cộng 31 triệu USD, giúp công trình khởi công trở lại cuối năm 2002 và hoàn thành vào tháng 7-2005.
 |
|
BIDV đồng hành cùng doanh nghiệp phát triển, đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế của đất nước. |
Tại miền Tây Nam Bộ, BIDV nhiều lần cho doanh nghiệp vay vốn đúng lúc nhiều tổ chức tín dụng khác thu hẹp tín dụng. Một tổng giám đốc doanh nghiệp đã nói với ngân hàng: “Chúng tôi không làm ăn kém, mà chỉ thiếu tiền… Rất cần người có tiền nhận ra khát vọng của chúng tôi và tin chúng tôi.”
Nghĩa tình càng được thử thách khi khách hàng gặp khủng hoảng. Năm 2008, có thời điểm lãi suất thị trường lên tới 21%/năm. Chỉ trong năm tháng cuối năm, BIDV đã mười lần hạ lãi suất cho vay xuống còn 10-11%/năm, giúp nông dân và doanh nghiệp nhỏ và vừa trụ vững. Giai đoạn 2011-2015, BIDV chủ động giảm lãi suất 21-22 lần, mức giảm bình quân 1,5-3%/năm. Cùng với đó, ngân hàng cơ cấu lại nợ, miễn, giảm lãi và cho vay mới đối với khách hàng gặp khó khăn tạm thời nhưng còn khả năng phục hồi.
Phép thử của đại dịch và những đợt bão lũ
Đại dịch Covid-19 là phép thử khắc nghiệt nhất đối với nghĩa tình của BIDV trong thời bình. Ngân hàng phải lựa chọn giữa lợi nhuận của mình và sự tồn tại của người vay. BIDV đã lựa chọn điều mà chính ngân hàng gọi là “chủ động giảm thu nhập”.
Số thu nhập BIDV chủ động giảm là hơn 6.400 tỷ đồng năm 2020, hơn 7.900 tỷ đồng năm 2021 và hơn 5.500 tỷ đồng năm 2022. Tổng cộng gần 20.000 tỷ đồng trong ba năm, và hơn 34.000 tỷ đồng nếu tính cả giai đoạn 2020-2024. Đây không phải khoản tài trợ trích từ lợi nhuận đã hạch toán, mà là phần lợi nhuận ngân hàng tự nguyện không thu để hỗ trợ người vay. Riêng năm 2020, lợi nhuận trước thuế hợp nhất của BIDV là 9.017 tỷ đồng; khoản giảm thu nhập 6.400 tỷ đồng tương đương gần ba phần tư lợi nhuận cả năm.
 |
|
BIDV tài trợ bệnh viện phòng, chống dịch Covid-19. |
Đằng sau những con số là những giải pháp cụ thể. Từ đầu tháng 4-2020, BIDV giảm tới 2%/năm lãi suất cho dư nợ hiện hữu của doanh nghiệp bị ảnh hưởng và của người lao động mất việc. Đến giữa năm 2020, BIDV đã cơ cấu lại trên 40.000 tỷ đồng nợ vay cho khách hàng bị ảnh hưởng và giải ngân hơn 70.000 tỷ đồng từ gói tín dụng hỗ trợ cho 5.400 khách hàng. Tháng 8-2021, khi 19 tỉnh, thành phía Nam thực hiện giãn cách xã hội, BIDV dành riêng 1.000 tỷ đồng hỗ trợ lãi suất cho doanh nghiệp khu vực này: Giảm 0,5-1,5%/năm lãi suất các khoản vay hiện hữu và dành gói tín dụng 30.000 tỷ đồng cho vay mới với lãi suất thấp hơn thông thường tới 1,5%/năm.
Ngày 9-8-2021, giữa lúc dịch bệnh diễn biến căng thẳng nhất, BIDV công bố chương trình “Đồng hành cùng ngành Y, chung tay vượt đại dịch”. Chương trình dành 5.000 tỷ đồng cho cán bộ y tế vay tiêu dùng với lãi suất 1%/năm trong hai năm đầu, không cần tài sản bảo đảm. Bên cạnh đó, BIDV dành 20.000 tỷ đồng cho cán bộ y tế vay mua nhà với lãi suất cố định 5,5%/năm trong hai năm đầu và tặng 100.000 bộ đồ bảo hộ cho các cơ sở y tế ở vùng phong tỏa. Về nghiệp vụ, mức lãi suất ấy gần như miễn phần lãi cho những người đang trực tiếp cứu chữa người bệnh.
Sự hỗ trợ ấy được cảm nhận rõ nhất từ phía doanh nghiệp. Ông Đào Ngọc Kim, Giám đốc Công ty Vĩnh Hưng Đạt, cho biết: “BIDV bắt đầu giảm lãi suất cho vay khoảng 0,5%/năm, giúp doanh nghiệp chúng tôi tiết kiệm khoảng 100 triệu đồng tiền lãi/tháng.” Ở tầm vĩ mô, mức giảm nửa phần trăm lãi suất chỉ là một dòng trong báo cáo; nhưng với một doanh nghiệp, đó là tiền lương tháng của hàng chục công nhân.
Tinh thần ấy tiếp tục được thể hiện khi bão số 3 (bão Yagi) đổ bộ vào miền Bắc tháng 9-2024. Ngày 20-9-2024, BIDV giảm lãi suất tới 2%/năm cho khách hàng bị thiệt hại, áp dụng trên tổng dư nợ 100.000 tỷ đồng, gồm 40.000 tỷ đồng các khoản vay hiện hữu và 60.000 tỷ đồng các khoản vay mới. Sau thiên tai, sự hỗ trợ có giá trị nhất mà ngân hàng dành cho khách hàng không phải là tiền mặt, mà là điều kiện để họ khôi phục sản xuất, kinh doanh.
Những quyết định ấy phù hợp với chủ trương của Đảng, Chính phủ về thực hiện “mục tiêu kép”: Vừa phòng, chống dịch, vừa phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội. Các quyết định ấy cũng thực hiện đúng chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước về cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi cho khách hàng bị ảnh hưởng. Sâu xa hơn, đó là biểu hiện của hình mẫu doanh nghiệp mà Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 10-10-2023 của Bộ Chính trị đặt ra cho đội ngũ doanh nhân Việt Nam trong thời kỳ mới. Theo nghị quyết, doanh nhân Việt Nam phải có đạo đức, có “văn hóa kinh doanh mang bản sắc dân tộc”, “có trách nhiệm xã hội, ý thức bảo vệ môi trường, đóng góp xứng đáng cho các mục tiêu phát triển đất nước”. Một doanh nghiệp nhà nước sẵn sàng giảm lợi nhuận để khách hàng vượt khó chính là biểu hiện sinh động của văn hóa kinh doanh ấy.
 |
|
BIDV trao tặng cặp phao cứu sinh cho các em học sinh vùng sông nước. |
Những cử chỉ nhỏ làm nên chữ Tín
Nghĩa tình với khách hàng còn thể hiện qua những cử chỉ nhỏ. Trong chiến dịch huy động vốn đầu thập niên 1990, một nữ cán bộ được phân công đi mua xôi để mời những khách hàng đang xếp hàng chờ mua kỳ phiếu từ sáng sớm. Khi biết tin một nữ khách hàng bị ngã gãy chân, đoàn cán bộ chi nhánh đã đến thăm ngay trong chiều mưa rét, khiến vị khách sửng sốt: “Sao biết chị đau mà đến nhanh vậy…”
Nhà thơ, doanh nhân Trần Đỗ Liêm, khách hàng gần 30 năm của BIDV Tiền Giang, được chi nhánh tặng một lẵng lan hồ điệp nhân đêm thơ Nguyên Tiêu. Ông chia sẻ: “tôi có quan hệ với 4 ngân hàng… nhưng duy nhất chỉ có BIDV đối xử với tôi suốt thời gian dài bằng một nét văn hóa rất đẹp như thế”. Những việc làm ấy không làm tăng hạn mức tín dụng, nhưng làm tăng sự gắn bó giữa khách hàng với ngân hàng, một giá trị khó định lượng hơn nhiều.
“Không chỉ vì tiền” không có nghĩa là ngân hàng từ bỏ nguyên tắc kinh doanh, mà là cách nhìn sâu hơn về lợi ích lâu dài. Ông Lê Ngọc Lâm ví ngân hàng “vừa là bà đỡ, vừa là bạn đồng hành của doanh nghiệp”. Theo đó, khó khăn của khách hàng không phải là rủi ro cần né tránh, mà là bài toán ngân hàng phải cùng khách hàng tìm lời giải. Ngân hàng cấp vốn bằng sự tỉnh táo, nhưng giữ khách hàng bằng niềm tin; và niềm tin chỉ bền vững khi phía sau đồng vốn luôn có trách nhiệm và tấm lòng.
Bên trong tổ chức, nghĩa tình giữ cho cán bộ gắn bó với BIDV. Bên ngoài tổ chức, nghĩa tình giữ cho khách hàng gắn bó với ngân hàng. Nhưng với một ngân hàng thương mại nhà nước, nghĩa tình còn mở rộng tới cộng đồng, bạn bè quốc tế và các thế hệ mai sau. Đó là nội dung của kỳ cuối.
Đặng Văn Tuyên - Ngô Hương - Trần Văn Nguyên