Giá hồ tiêu tại các vùng sản xuất trọng điểm tiếp tục ổn định trong khoảng 137.000 - 141.000 đồng/kg, không xuất hiện điều chỉnh mới.
Lâm Đồng tiếp tục là địa phương có giá thu mua cao nhất, đạt 141.000 đồng/kg. Đứng tiếp theo là Đắk Lắk với 139.000 đồng/kg. Tại TP Hồ Chí Minh, hồ tiêu được thu mua ở mức 137.500 đồng/kg.
Gia Lai và Đồng Nai cùng duy trì mức 137.000 đồng/kg, thấp nhất trong số các địa phương khảo sát.
Như vậy, khoảng cách giữa vùng có giá cao nhất và thấp nhất hiện là 4.000 đồng/kg. Thị trường nội địa chưa có thêm biến động sau khi Đắk Lắk giảm 1.000 đồng/kg trong tuần trước.
 |
| Ảnh minh họa: 24h.com.vn |
Trên thị trường quốc tế, giá hồ tiêu tại các nước sản xuất lớn cũng tương đối ổn định. Theo Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC), hồ tiêu đen Indonesia hiện được niêm yết ở mức 6.886 USD/tấn.
Hồ tiêu đen Malaysia đạt 9.250 USD/tấn, cao nhất trong nhóm thị trường khảo sát, trong khi hồ tiêu đen ASTA 570 của Brazil đứng ở mức 5.750 USD/tấn.
Đối với Việt Nam, giá hồ tiêu đen xuất khẩu tiếp tục dao động từ 6.070 - 6.130 USD/tấn, tương ứng hai quy cách 500 g/l và 550 g/l.
Ở phân khúc hồ tiêu trắng, Muntok của Indonesia được giao dịch ở mức 9.428 USD/tấn. Hồ tiêu trắng Malaysia đạt 12.150 USD/tấn, còn Việt Nam duy trì mức 8.450 USD/tấn.
Trong bối cảnh giá nội địa ít biến động, số liệu xuất khẩu nửa đầu tháng 9 cho thấy những thay đổi đáng chú ý về nhu cầu tại các thị trường lớn.
Theo thống kê sơ bộ của Hiệp hội Hồ tiêu và cây gia vị Việt Nam (VPSA), trong 15 ngày đầu tháng 9-2026, Việt Nam xuất khẩu 10.915 tấn hồ tiêu, thu về khoảng 70 triệu USD. So với 10.514 tấn trong nửa đầu tháng 8, lượng xuất khẩu tăng 3,8%.
Đáng chú ý, động lực tăng trưởng không diễn ra đồng đều giữa các thị trường mà tập trung chủ yếu ở Mỹ và Trung Quốc.
Châu Á tiếp tục là khu vực nhập khẩu hồ tiêu Việt Nam lớn nhất với 5.741 tấn, chiếm 52,6% tổng lượng xuất khẩu và tăng 1,6% so với nửa đầu tháng trước.
Riêng Trung Quốc nhập khẩu 2.125 tấn, tăng tới 34,1%. Trái lại, lượng xuất khẩu sang UAE giảm 42,1%, còn 570 tấn.
Mức tăng mạnh hơn xuất hiện tại châu Mỹ. Tổng lượng hồ tiêu xuất sang khu vực này đạt 3.111 tấn, tăng 44,2%.
Trong đó, Mỹ mua 2.905 tấn, tăng tới 62,4% so với 15 ngày đầu tháng 8 và chiếm 26,6% tổng lượng hồ tiêu xuất khẩu của Việt Nam trong kỳ.
Trái với sự tăng trưởng tại Mỹ và Trung Quốc, xuất khẩu sang châu Âu giảm 26,3%, xuống còn 1.594 tấn. Châu Phi cũng giảm 13,8%, còn 469 tấn.
Sự phân hóa này cho thấy mức tăng 3,8% của tổng lượng xuất khẩu chủ yếu được tạo ra nhờ sức mua cải thiện mạnh tại hai thị trường Mỹ và Trung Quốc, qua đó bù đắp mức giảm ở một số khu vực khác.
Trái với chiều xuất khẩu, lượng hồ tiêu được Việt Nam nhập khẩu trong nửa đầu tháng 9 giảm khá mạnh. Theo VPSA, trong 15 ngày đầu tháng, Việt Nam nhập khẩu 959 tấn hồ tiêu, với kim ngạch khoảng 5,3 triệu USD.
So với 1.623 tấn của nửa đầu tháng 8, lượng nhập khẩu giảm tới 40,9%. Trong cơ cấu mặt hàng, hồ tiêu đen đạt 814 tấn, chiếm 84,9%, còn hồ tiêu trắng đạt 145 tấn, tương ứng 15,1%.
Campuchia tiếp tục là nguồn cung lớn nhất với 586 tấn, chiếm tới 61,1% tổng lượng hồ tiêu nhập khẩu của Việt Nam trong kỳ. Tuy nhiên, con số này đã giảm 15,3% so với 692 tấn trong nửa đầu tháng 8.
Indonesia đứng thứ hai với 226 tấn, chiếm 23,6% và giảm 45,1%. Trong đó có 112 tấn tiêu đen và 114 tấn tiêu trắng.
Brazil cung cấp 77 tấn, tương đương 8% tổng lượng nhập khẩu và giảm 53%.
Diễn biến trái chiều giữa xuất và nhập khẩu tạo nên bức tranh đáng chú ý trong nửa đầu tháng 9: Việt Nam xuất khẩu nhiều hơn so với cùng kỳ nửa đầu tháng trước, trong khi lượng hồ tiêu nhập về giảm mạnh.
* Giá cà phê tại các tỉnh khu vực Tây Nguyên tiếp tục đi ngang sau tuần giảm mạnh, dao động trong khoảng 93.000 - 93.600 đồng/kg.
Tại Đắk Lắk và Gia Lai, giá cà phê cùng được ghi nhận ở mức 93.600 đồng/kg. Lâm Đồng tiếp tục có mức thấp nhất là 93.000 đồng/kg.
Như vậy, toàn bộ các địa phương khảo sát vẫn đứng dưới mốc 94.000 đồng/kg. Trước đó, trong tuần vừa qua, giá cà phê Tây Nguyên đã giảm khoảng 1.500 - 1.700 đồng/kg.
Diễn biến này đồng pha với đợt điều chỉnh trên thị trường quốc tế. Trên sàn London, Robusta kỳ hạn tháng 11-2026 kết thúc tuần trước ở mức 3.396 USD/tấn, giảm tổng cộng 129 USD/tấn, tương đương 3,7%. Hợp đồng giao tháng 1-2027 giảm 135 USD/tấn, tương ứng 3,8%, xuống còn 3.373 USD/tấn.
Tại New York, Arabica tháng 12-2026 giảm 1,8%, tương đương 5,2 US cent/pound, còn 280,5 US cent/pound. Hợp đồng tháng 3-2027 giảm 1,9%, xuống 271,95 US cent/pound.
Theo I & M Smith, khi niên vụ cà phê 2025-2026 chuẩn bị kết thúc vào cuối tháng 9, sự chú ý của thị trường đang chuyển dần sang số liệu xuất khẩu cuối vụ và triển vọng niên vụ mới 2026-2027 bắt đầu từ tháng 10.
|

|
|
Ảnh minh họa: 24h.com.vn
|
Tại Việt Nam, phần lớn lượng cà phê của niên vụ 2025-2026 đã được đưa ra thị trường. Sản lượng vụ này được đánh giá đã phục hồi sau hai niên vụ 2023-2024 và 2024-2025 sụt giảm.
Theo ước tính được I & M Smith dẫn lại, tổng sản lượng cà phê Việt Nam niên vụ 2025-2026 đạt khoảng 32,5 triệu bao, trong đó Robusta chiếm khoảng 31 triệu bao.
Sang niên vụ 2026-2027, sản lượng được dự báo giảm nhẹ xuống khoảng 31 triệu bao, gồm 29,8 triệu bao Robusta và 1,2 triệu bao Arabica.
Tại Tây Nguyên, những đợt mưa cuối mùa hè vẫn diễn ra theo quy luật thông thường. Cây cà phê đang bước vào giai đoạn cuối trước khi vụ thu hoạch mới dự kiến bắt đầu từ tháng 10.
Điều này khiến diễn biến nguồn cung Việt Nam trong những tuần tới trở thành một trong những yếu tố đáng chú ý đối với thị trường Robusta.
Trong ngắn hạn, lượng hàng vụ cũ không còn nhiều có thể tạo lực đỡ nhất định cho thị trường vật chất. Tuy nhiên, khi vụ thu hoạch mới bắt đầu và lượng cà phê dần được đưa ra thị trường, áp lực nguồn cung có thể tăng lên nếu hoạt động mua vào không cải thiện tương ứng.
Cùng lúc, Brazil cũng đang đưa lượng cà phê niên vụ mới ra thị trường. Đây là yếu tố khiến giới giao dịch đặc biệt quan tâm đến tốc độ bổ sung hàng tại các kho được chứng nhận của sàn ICE.
Một tín hiệu đáng chú ý đối với thị trường Arabica là lượng cà phê được chứng nhận lưu kho trên sàn New York đang tăng trở lại...