Giá cà phê trong nước tại các tỉnh khu vực Tây Nguyên dao động trong khoảng 84.500 – 85.200 đồng/kg, giá bán trung bình ở mức 85.100 đồng/kg.

Cụ thể, giá cà phê tại Đắk Lắk neo ở mức giá 85.000 đồng/kg. Giá cà phê tại Lâm Đồng ở mức 84.500 đồng/kg. Giá cà phê tại Gia Lai ở mức 85.000 đồng/kg. Giá cà phê tại Đắk Nông có giá cao nhất, giao dịch ở mức 85.200 đồng/kg.

Như vậy, giá cà phê hiện giảm 600 - 700 đồng/kg so với tuần trước và là tuần giảm thứ tư liên tiếp. Đây cũng là vùng giá thấp nhất trong gần một tháng qua, phản ánh áp lực điều chỉnh sau giai đoạn tăng nóng trước đó.

Trên thị trường quốc tế, giá cà phê Robusta và Arabica tiếp tục giảm trên cả 2 sàn giao dịch. Cụ thể, giá cà phê Robusta hợp đồng kỳ hạn giao tháng 3-2026 trên sàn London giảm 2,47%, tương đương giảm 86 USD/tấn so với phiên trước, giá bán đang là 3.388 USD/tấn. 

Bản tin nông sản hôm nay (20-4): Giá cà phê tiếp tục kéo dài chuỗi giảm sang tuần thứ tư liên tiếp. Ảnh minh họa: dantri.com.vn

Còn giá cà phê Arabica trên sàn New York kỳ hạn hợp đồng giao tháng 3-2026 cũng giảm 2,4%, tương đương giảm 7,15 cent/lb so với chốt phiên liền trước, giá bán đang là 289.30 cent/lb.

* Trái ngược với cà phê, giá hồ tiêu trong nước đang cho thấy dấu hiệu phục hồi. Giá hồ tiêu hôm nay dao động trong khoảng 139.000 – 141.000 đồng/kg, gần như đi ngang so với phiên trước nhưng tính chung cả tuần vẫn tăng từ 1.000 đến 2.000 đồng/kg.

Trên thị trường thế giới, giá hồ tiêu đen xuất khẩu của Việt Nam vẫn duy trì trong khoảng 6.100 – 6.200 USD/tấn đối với các loại 500 g/l và 550 g/l, cho thấy sự ổn định tương đối so với thị trường quốc tế; giá hồ tiêu trắng neo ở mức 9.000 USD/tấn.

* Giá lúa gạo tại thị trường Đồng bằng sông Cửu Long hôm nay ghi nhận trạng thái ổn định, giá ít biến động nhưng giao dịch còn chậm.

Cụ thể, giá lúa tươi OM 18 dao động ở mức 6.000 - 6.200 đồng/kg, lúa Đài Thơm 8 ở mức 6.000 – 6.100 đồng/kg, lúa OM 5451 khoảng 5.800 - 5.900 đồng/kg; trong khi IR 50404 ở mức 5.500 – 5.600 đồng/kg. Lúa OM 34 tiếp tục duy trì ở vùng thấp hơn, khoảng 5.100 - 5.200 đồng/kg.

Ở mặt hàng gạo, giá gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 dao động ở mức 8.000 - 8.050 đồng/kg, gạo OM 18 ở mức 8.700 – 8.900 đồng/kg, gạo CL 555 khoảng 8.100 - 8.200 đồng/kg. Gạo thành phẩm IR 504 giữ mức 9.500 - 9.700 đồng/kg.

Tại các chợ lẻ, giá gạo đi ngang. Hiện gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài dao động ở mức 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Nàng hoa ở mức 21.000 đồng/kg; gạo thơm Đài Loan 20.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mức 16.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine dao động ở mức 14.000 - 15.000 đồng/kg, gạo thường dao động ở mức 13.000 - 14.000 đồng/kg; gạo Sóc thường dao động ở mức 16.000 - 17.000 đồng/kg; gạo Sóc Thái giá 20.000 đồng/kg; gạo Nhật giá 22.000 đồng/kg.

Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam vẫn duy trì ở mức tương đối cao, với gạo 5% tấm dao động ở mức  490 - 500 USD/tấn, gạo Jasmine khoảng 465 - 469 USD/tấn. Dữ liệu 3 tháng đầu năm 2026 cho thấy xuất khẩu gạo đạt 2,3 triệu tấn, tăng nhẹ về lượng nhưng giảm gần 8% về giá trị.