Tuy nhiên, nguy cơ ách tắc có thể vẫn tái diễn sau ngày 15-4-2026 nếu các bất cập cốt lõi của chính sách không được xử lý một cách căn cơ, đó là những băn khoăn của nhiều hiệp hội doanh nghiệp.
Giải pháp mang tính tình thế?
Nghị định số 46/2026/NĐ-CP ngày 26-1-2026 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật An toàn thực phẩm, cùng với Nghị quyết số 66.13/2026/NQ-CP quy định về công bố, đăng ký sản phẩm thực phẩm theo hướng hậu kiểm, quản lý rủi ro, đã phát sinh nhiều vướng mắc trong thực tiễn.
Tại Hội thảo “Tháo gỡ vướng mắc trong thực hiện chính sách pháp luật mới về an toàn thực phẩm” do Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổ chức sáng 6-2, ông Đậu Anh Tuấn, Phó tổng thư ký, Trưởng ban Pháp chế VCCI cho biết, việc Chính phủ ban hành Nghị định 46 và Nghị quyết 66.13 thể hiện nỗ lực lớn trong việc nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm, hướng tới siết chặt các lỗ hổng và tăng cường trách nhiệm trong sản xuất, phân phối thực phẩm.
 |
| Lực lượng hải quan tập trung cao độ đẩy nhanh tiến độ thông quan hàng hóa tại Cửa khẩu Tân Thanh (Lạng Sơn). Ảnh: THÙY LINH |
Tuy nhiên, chỉ sau hơn một tuần triển khai, các quy định mới đã bộc lộ nhiều khó khăn; thời gian chuyển tiếp quá ngắn, quy trình kiểm tra phức tạp, thiếu hướng dẫn cụ thể trong thực thi. Đặc biệt, nhiều doanh nghiệp chưa kịp hiểu rõ những thay đổi so với Nghị định số 15/2018/NĐ-CP trước đây, cũng như chưa đánh giá đầy đủ các chi phí phát sinh và yêu cầu kỹ thuật mới tác động đến hoạt động sản xuất, nhập khẩu và lưu thông hàng hóa.
Ông Đậu Anh Tuấn đánh giá rất cao quyết định kịp thời của Chính phủ khi ban hành Nghị quyết số 09/2026/NQ-CP, tạm ngưng hiệu lực của Nghị định 46 và Nghị quyết 66.13 đến hết ngày 15-4-2026 trong bối cảnh hiện nay. Quyết định này thể hiện tinh thần cầu thị, lắng nghe và đồng hành với doanh nghiệp, góp phần tháo gỡ ách tắc tại các cửa khẩu, cảng biển, bảo đảm chuỗi cung ứng không bị gián đoạn, đặc biệt trong giai đoạn cao điểm cận Tết.
Đồng tình với đánh giá trên, song đại diện các hiệp hội doanh nghiệp cho rằng Nghị quyết 09 mới chỉ là giải pháp mang tính tình thế. Trong khi đó, mốc thời gian 15-4-2026 đang đến gần, còn các bất cập cốt lõi của chính sách vẫn chưa được xử lý. Theo phản ánh của cộng đồng doanh nghiệp, Nghị định 46 và Nghị quyết 66.13 đang làm cho cơ chế tiền kiểm “phình to”, thủ tục hành chính chồng chéo, đi ngược lại tinh thần cải cách.
Cần tăng cường năng lực thực thi tại địa phương
Từ góc độ doanh nghiệp, bà Lý Kim Chi, Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Thực phẩm TP Hồ Chí Minh (FFA) cho biết, cộng đồng doanh nghiệp ngành thực phẩm hoàn toàn ủng hộ mục tiêu bảo đảm an toàn thực phẩm, bởi uy tín sản phẩm và sự tồn tại của doanh nghiệp gắn liền với niềm tin của người tiêu dùng.
Tuy nhiên, điều doanh nghiệp quan tâm là cách tiếp cận chính sách và khả năng thực thi trên thực tế. Việc các quy định mới được áp dụng trong thời gian ngắn khiến cả doanh nghiệp và cơ quan quản lý địa phương lúng túng, trong bối cảnh khối lượng công việc và yêu cầu chuyên môn tăng cao.
Theo đại diện FFA, bên cạnh việc ghi nhận nỗ lực của Chính phủ trong việc lùi thời điểm áp dụng, cần đánh giá đầy đủ năng lực thực thi của hệ thống quản lý địa phương. Các quy định tại Nghị định 46 và Nghị quyết 66.13 đặt ra yêu cầu cao về thẩm định hồ sơ, kiểm nghiệm và phối hợp liên ngành, trong khi nhiều địa phương đang trong quá trình sắp xếp lại bộ máy, tiềm ẩn nguy cơ quá tải, ách tắc nếu không được chuẩn bị đầy đủ về nhân lực, chuyên môn và nguồn lực.
Khuyến nghị các giải pháp trong thực hiện chính sách pháp luật về an toàn thực phẩm, ông Đậu Anh Tuấn cho rằng, các quy định cần được xây dựng theo định hướng quản lý rủi ro và hậu kiểm, không dàn trải. Chính sách nên tập trung vào các khâu có nguy cơ cao thay vì kiểm tra tràn lan. Các thủ tục mới chỉ nên ban hành khi chứng minh được hiệu quả rõ ràng trong việc bảo vệ an toàn thực phẩm, đồng thời không gây đứt gãy chuỗi cung ứng hay làm gia tăng chi phí không cần thiết cho doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, cần chuyển từ mô hình “đăng ký-kiểm nghiệm từng sản phẩm” sang quản lý toàn diện theo chuỗi giá trị thực phẩm, từ trang trại đến bàn ăn. Song song với quá trình này, cần tăng cường năng lực thực thi tại địa phương, bảo đảm đầy đủ về nhân lực, chuyên môn, ngân sách, thời gian để triển khai chính sách một cách hiệu quả, đồng bộ, tránh tình trạng mỗi nơi hiểu và áp dụng một kiểu. Đồng thời, cần thúc đẩy chuyển đổi số và liên thông dữ liệu giữa các cơ quan quản lý nhằm tăng tính minh bạch, giảm thủ tục chồng chéo, nâng cao hiệu quả kiểm tra, khả năng truy xuất nguồn gốc thực phẩm.
An toàn thực phẩm là vấn đề thiết yếu, mang tính chiến lược đối với sức khỏe cộng đồng, đồng thời tác động trực tiếp đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm Việt Nam, khả năng hội nhập quốc tế. Do đó, chính sách pháp luật về an toàn thực phẩm không chỉ là vấn đề kỹ thuật mà còn ảnh hưởng sâu rộng tới toàn bộ chuỗi sản xuất-kinh doanh-tiêu dùng của nền kinh tế.