Theo phản ánh của nhiều DN FDI và nhận định của các chuyên gia, việc bảo đảm tính ổn định của chính sách là yếu tố quan trọng để các DN FDI yên tâm đầu tư vào Việt Nam, từ đó có tác động lan tỏa đến các DN trong nước, nhằm tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Ông Đậu Anh Tuấn, Trưởng ban Pháp chế, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đánh giá, các DN FDI đã có nhiều đóng góp quan trọng vào nền kinh tế đất nước, góp phần giải quyết việc làm, phát triển công nghiệp và đẩy mạnh xuất khẩu. Theo thống kê của VCCI, các DN FDI đã đóng góp hơn 50% giá trị cho ngành công nghiệp chế tạo, hơn 70% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam... Thời gian qua, Việt Nam là điểm đến hấp dẫn của các DN FDI. Hằng năm, VCCI thường khảo sát khoảng 2.000 DN FDI đang hoạt động tại Việt Nam. Các DN FDI đánh giá, sức hấp dẫn của Việt Nam đó là chi phí rẻ về nhân công, đất đai... cùng các chính sách ưu đãi đầu tư, chính trị ổn định và có mức thuế ổn định. Tuy nhiên, các DN cũng cho rằng, điểm yếu của Việt Nam là phát triển hạ tầng nhiều nơi còn chưa tương xứng, chất lượng nhân lực chưa phù hợp, dịch vụ công còn yếu và thiếu tính ổn định trong các quy định pháp luật.
 |
|
Bộ Tài chính dự kiến sẽ tăng thuế đối với mặt hàng nước ngọt. (Ảnh: http://tinnhanhchungkhoan.vn) |
Thời gian qua, pháp luật về DN, đầu tư ở nước ta đã có nhiều thay đổi lớn. Luật Đầu tư năm 2014 đã khẳng định, Nhà nước Việt Nam bảo đảm đầu tư kinh doanh trong trường hợp thay đổi pháp luật, các nhà đầu tư sẽ được hưởng mức ưu đãi đầu tư tốt hơn. Trường hợp thay đổi pháp luật cho mức ưu đãi đầu tư thấp hơn thì Nhà nước bảo đảm, các nhà đầu tư tiếp tục được hưởng mức ưu đãi đầu tư theo quy định cũ trong thời gian còn lại của dự án.
Theo ông Đậu Anh Tuấn, sự ổn định, nhất quán của chính sách là yếu tố rất quan trọng để bảo đảm nhà đầu tư yên tâm. Trong khi đó, ông Adam Sitkoff, Giám đốc điều hành Hiệp hội Thương mại Hoa Kỳ tại Hà Nội (Amcham) nêu thực tế, các DN của AmCham vẫn rất lạc quan về triển vọng phát triển kinh doanh tại Việt Nam, nhưng những thay đổi trong chính sách và quy định không phù hợp với thông lệ quốc tế sẽ khiến các DN FDI gặp phải những rủi ro và trở ngại.
Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Nguyễn Mại cho rằng, quá trình thay đổi chính sách và pháp luật trong 30 năm qua đã nảy sinh nhiều khiếm khuyết. Ví như: Việc sửa đổi Luật Đầu tư nước ngoài năm 2000 đã khắc phục được nhiều nhược điểm của lần sửa đổi trước đó. Tuy vậy, nhiều ý tưởng mới phù hợp với yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế chưa được đưa vào luật, như hình thức công ty cổ phần, công ty hợp doanh, công ty quản lý. Đối với sản xuất rượu, bia, nước giải khát, có thời điểm thì mở rộng, có thời điểm lại hạn chế DN FDI... Từ năm 2006, Chính phủ phân cấp cho UBND tỉnh, thành phố về quản lý Nhà nước với DN FDI đã phát huy được tính sáng tạo, chủ động của địa phương trong vận động và cấp phép đầu tư. Tuy nhiên, một số địa phương đã tự đề ra quy định vượt thẩm quyền (miễn, giảm thuế cho các dự án FDI nhiều hơn, với thời hạn dài hơn các khung pháp lý mà Quốc hội đã thông qua), dẫn đến cạnh tranh không lành mạnh giữa các địa phương trong một vùng lãnh thổ, gây thiệt hại đến quyền lợi của Việt Nam.
Từ thực tế trên, Giáo sư Nguyễn Mại cho rằng, cần hình thành định hướng và chính sách mới về thu hút FDI; trong đó, cần điều chỉnh chính sách ưu đãi với dự án FDI theo hướng gắn với hiệu quả kinh tế-xã hội của từng vùng, từng địa phương. Kiên quyết không lựa chọn dự án FDI thâm dụng lao động, gây ô nhiễm môi trường; coi trọng chính sách kết nối DN FDI với DN trong nước để có tác động lan tỏa. Khi thay đổi chính sách, pháp luật cần bảo đảm tính hệ thống, ổn định, có “độ trễ” về thời gian thi hành để các nhà đầu tư, DN FDI chủ động trong điều chỉnh chiến lược kinh doanh. Hệ thống văn bản pháp quy từ luật đến nghị định, thông tư cần có sự đồng bộ, nhất quán và ban hành đồng thời trong khoảng thời gian đủ dài trước thời hạn có hiệu lực thi hành, để DN tiếp cận đầy đủ thông tin và chuẩn bị các điều kiện thi hành.
Những năm gần đây, Việt Nam đã có nhiều thay đổi rất tích cực trong việc ban hành các chính sách. Việc tham vấn, lấy ý kiến khi ban hành chính sách đã được triển khai rộng rãi, đăng tải công khai để các nhà đầu tư, DN có cơ hội góp ý; quy trình ban hành văn bản pháp luật đã có sự tương tác, thảo luận. Đó là bước tiến lớn của Việt Nam so với cách đây hơn 10 năm. Tuy nhiên, ở một vài nơi vẫn chưa tuân thủ cam kết và chưa thực hiện nhất quán với định hướng của Chính phủ. Vì vậy, các nhà đầu tư nước ngoài cũng cần chủ động nêu lên những vấn đề trên để thúc đẩy môi trường kinh doanh thuận lợi. Những kiến nghị của DN cũng là thông tin hữu ích để các cơ quan hữu quan kịp thời nắm bắt và truyền tải vào những chính sách mới, hướng tới hệ thống pháp luật minh bạch, thúc đẩy sự phát triển.
MINH MẠNH