Tuy nhiên, trước việc có nhiều doanh nghiệp nhập khẩu thép cuộn ồ ạt trong thời gian qua đã khiến doanh nghiệp sản xuất thép trong nước gặp khó khăn, cũng như khiến cho các biện pháp tự vệ thương mại đã áp dụng chưa đạt hiệu quả mong muốn. Câu hỏi đặt ra là, liệu các doanh nghiệp nhập khẩu thép cuộn “đại trà” trong thời gian qua có lách luật để hưởng ưu đãi về thuế suất?
Doanh nghiệp chuyển mã hàng để hưởng ưu đãi về thuế?
Sau khi ban hành Quyết định số 862/QĐ-BCT ngày 7-3-2016 về việc áp dụng biện pháp tự vệ tạm thời đối với mặt hàng phôi thép và thép dài nhập khẩu, ngày 18-7-2016, Bộ Công Thương ban hành Quyết định số 2968/QĐ-BCT về việc áp dụng biện pháp tự vệ chính thức đối với các mặt hàng trên với mức thuế tự vệ lần lượt là 15,4% đối với thép dài (thép dây cuộn, thép thanh) và 23,3% đối với phôi thép. Việc áp dụng biện pháp tự vệ đã có tác dụng tích cực lên ngành sản xuất thép trong nước nói chung, đặc biệt là ngành sản xuất phôi thép. Theo báo cáo của Hiệp hội Thép Việt Nam, trong 10 tháng năm 2016, lượng sản xuất đã tăng 20,8% và bán hàng thép xây dựng tăng 21,5% so với cùng kỳ năm 2015. Lượng sản xuất phôi thép 10 tháng năm 2016 tăng lên đáng kể so với năm 2015, cụ thể: Lượng sản xuất phôi thép 10 tháng năm 2016 đạt khoảng 6,5 triệu tấn, tăng khoảng 33% so với cùng kỳ năm 2015 và tăng 10% so với tổng lượng sản xuất phôi thép cả năm 2015. Một số doanh nghiệp tạm dừng hoạt động đã hoạt động trở lại, nhiều doanh nghiệp thoát lỗ, có lãi trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
Ảnh minh họa/satthep.net.
Tuy nhiên, theo phản ảnh của các doanh nghiệp sản xuất thép trong nước, từ sau khi áp dụng biện pháp tự vệ, qua theo dõi tình hình nhập khẩu và thị trường đang tồn tại việc doanh nghiệp nhập khẩu kê khai sang mã (HS) khác đối với mặt hàng thép cuộn (là một trong những sản phẩm hiện thuộc đối tượng được áp dụng thuế tự vệ thương mại) để không bị áp thuế tự vệ thương mại.
Cụ thể, trước khi Bộ Công Thương ban hành Quyết định áp thuế tự vệ thương mại, thép dây cuộn được các doanh nghiệp nhập khẩu kê khai vào mã 7227.90.00 (thép cuộn hợp kim, có chứa nguyên tố Bo, Crôm, Ti-tan...) để hưởng thuế suất 0%. Tuy nhiên, sau khi áp thuế tự vệ thương mại của Bộ Công Thương có hiệu lực, lượng nhập khẩu thép cuộn mã như trên giảm rõ rệt do bị áp thuế tự vệ 15,4%. Thống kê 10 tháng đầu năm 2016 cho thấy, lượng nhập khẩu chỉ bằng 58% so với lượng nhập của cả năm 2015 (năm 2015 là hơn 1,22 triệu tấn, trong khi tổng 10 tháng năm 2016 chỉ có 713.138 tấn). Đồng thời, xuất hiện tình trạng kê khai nhập khẩu tăng đột biến ở mã 7213.91.90, hiện đang chịu mức thuế suất 3%. Trong 10 tháng năm 2016, tổng lượng nhập của mã thép cuộn 7213.91.90 là hơn 572.000 tấn, tăng gấp 4 lần lượng nhập năm 2015. Đặc biệt, tháng 10-2016 đánh dấu việc nhập khẩu tăng cao kỷ lục của mã thép cuộn này với lượng nhập khẩu là 140.000 tấn, bằng 155% lượng sản xuất thép cuộn của toàn ngành thép Việt Nam trong tháng 10. Theo Hiệp hội Thép Việt Nam, lượng sản xuất thép cuộn toàn ngành tháng 10-2016 là gần 91.000 tấn. Việc nhập khẩu tăng đột biến của mã 7213.91.90 và giảm của mã 7227.90.00 đều bắt đầu xảy ra từ tháng 4-2016 là thời gian sau khi áp thuế tự vệ tạm thời.
Xuất hiện nhiều doanh nghiệp nhập khẩu thép mới
Cùng với sự tăng lên về lượng nhập khẩu của mã thép cuộn 7213.91.90 là sự xuất hiện của các doanh nghiệp nhập khẩu mới mà trước đây chưa từng nhập mã này. Năm 2015 có khoảng hơn 30 doanh nghiệp nhập khẩu mã 7213.91.90, song trong 10 tháng năm 2016 đã lên tới khoảng 70 doanh nghiệp và các doanh nghiệp xuất hiện mới đều là các công ty thương mại. Đây cũng chính là các công ty trước đây nhập mã 7227.90.00 và đứng hàng đầu trong số các công ty nhập mã 7213.91.90 nhiều nhất 10 tháng năm 2016.
Trong văn bản kiến nghị gửi Bộ Công Thương, ông Phạm Thanh Lâm, Phó tổng giám đốc Công ty TNHH Thép VSC-POSCO cho rằng, các tiêu chuẩn kỹ thuật mà các doanh nghiệp kê khai khi nhập khẩu mã 7213.91.90 đều là các mác thép của loại thép carbon thông dụng, có những giới hạn kỹ thuật nằm trong giới hạn kỹ thuật của thép làm cốt bê tông. Nói cách khác, những lô hàng thép cuộn mà các doanh nghiệp đã nhập khẩu theo mã 7213.91.90 mặc dù theo mô tả hải quan là không làm thép cốt bê tông nhưng hoàn toàn có thể sử dụng như thép cốt bê tông. Đồng thời, khi xem xét các tiêu chuẩn kỹ thuật của thép thuộc mã 7213.91.90 được kê khai, chỉ có một số lượng nhỏ thép cuộn mã này là mác chất lượng cao, dùng cho chế tạo, doanh nghiệp trong nước không sản xuất được.
Trước đó, ngày 18-10, Hiệp hội Thép Việt Nam đã có Văn bản số 71/HHTVN gửi Chính phủ và các bộ, ngành phản ánh tình trạng nhập khẩu ồ ạt thép cuộn và chuyển mã trong kê khai hải quan. Tiếp theo, tại văn bản ngày 2-12, các doanh nghiệp ngành sản xuất thép Việt Nam cùng gửi kiến nghị Bộ Công Thương, Bộ Tài chính các biện pháp kịp thời điều tra mở rộng phạm vi áp dụng thuế tự vệ thương mại đối với các mặt hàng thép cuộn có mã HS 7213.91.90, 7213.99.90, 9839.10.00 và 9839.20.00. Theo kiến nghị của ông Phạm Thanh Lâm, mặc dù mới chỉ ghi nhận việc chuyển dịch kê khai nhập khẩu sang mã HS 7213.91.90, nhưng nếu không ngăn chặn kịp thời, việc chuyển sang các mã còn lại có khả năng xảy ra trong tương lai vì đây đều là các mã thép cuộn, có mô tả giống nhau, chỉ khác nhau ở đường kính của sản phẩm.
Bên cạnh đó, ông Phạm Thanh Lâm cũng cho rằng, cần đưa các mã HS 7213.91.90, 7213.99.90, 9839.10.00, 9839.20.00, 7217.10.10, 7217.10.29 và 7229.90.90 vào danh mục hàng hóa cần kiểm soát chặt, nhằm ngăn chặn việc chuyển mã để hưởng chênh lệch thuế do đây đều là các mã HS có mức thuế nhập khẩu thấp và mô tả trong biểu thuế không cụ thể. Đồng thời, nâng mức thuế nhập khẩu MFN đối với các mã thép cuộn nêu trên lên mức trần theo cam kết của WTO.
MINH MẠNH-THÙY DUNG