QĐND Online – Nhằm khắc phục những hạn chế, yếu kém của giáo dục Việt Nam mà Đề án "Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế" chỉ ra, các chuyên gia giáo dục đã có những nghiên cứu, trong đó bước đầu phác họa mô hình sách giáo khoa (SGK).

Chương trình GD phổ thông sau năm 2015 có những định hướng mới như: Phát triển Chương trình theo định hướng phát triển năng lực; tăng cường tích hợp nội dung; thực hiện phân hoá ngày càng sâu, đáp ứng nhu cầu phát triển cá nhân của học sinh (HS). Nhiều chuyên gia giáo dục cho rằng để thực hiện được những yêu cầu đó, bậc tiểu học đóng vai trò rất quan trọng.

Mô hình SGK tiểu học mới sẽ giúp học sinh phát triển theo định hướng năng lực

 

SGK theo mô hình giao tiếp

Hiện nay, trên thế giới đang tồn tại 3 mô hình SGK tiếng phổ thông, đó là: Mô hình lí thuyết, mô hình phỏng giao tiếp và mô hình giao tiếp.

SGK xây dựng theo mô hình lí thuyết là loại sách đơn thuần trình bày hệ thống kiến thức ngôn ngữ học; SGK xây dựng theo mô hình phỏng giao tiếp là loại sách triển khai nội dung theo trục kỹ năng ngôn ngữ; SGK xây dựng theo mô hình giao tiếp là loại sách triển khai nội dung theo chủ đề hoạt động của HS nhằm tìm hiểu các lĩnh vực khác nhau của đời sống, lấy các hoạt động đó làm môi trường giao tiếp để hình thành kiến thức và phát triển kỹ năng ngôn ngữ.

Theo GS.TS Nguyễn Minh Thuyết, mô hình thích hợp nhất đối với bộ SGK Tiếng Việt tiểu học sau năm 2015 là mô hình giao tiếp. Với mô hình này, SGK không còn mô phỏng con đường hình thành và phát triển năng lực giao tiếp của con người nữa mà đặt HS vào những tình huống giao tiếp thật.

Bằng cách này, việc học ngôn ngữ trên lớp sẽ diễn ra giống với việc trẻ em học ngôn ngữ trong môi trường giao tiếp tự nhiên. Phương pháp dạy học này không dẫn HS đi từ kiến thức ngôn ngữ tường minh (nhờ các bài lí thuyết) đến việc sử dụng những kiến thức đó, mà hình thành dần kiến thức ngôn ngữ tiềm ẩn và kỹ năng sử dụng ngôn ngữ cho các em thông qua hoạt động giao tiếp để hoàn thành nhiệm vụ. Đây là bước chuyển từ quan niệm “học ngôn ngữ để sử dụng được nó” sang “sử dụng ngôn ngữ để học nó”.

Hiện nay, ở Việt Nam, giai đoạn 1 (lớp 1, 2, 3), HS được học các kiến thức về tự nhiên và xã hội thông qua môn học Tự nhiên và Xã hội, đến giai đoạn 2 (lớp 4, 5) thông qua các môn học: Khoa học, Lịch sử và Địa lí. Từ những hạn chế đã bộc lộ của SGK Việt Nam, PGS. TS Nguyễn Tuyết Nga và Thạc sĩ Phan Thanh Hà, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, đề xuất: Mô hình SGK tiểu học môn Tự nhiên và Xã hội sau năm 2015 phải thể hiện rõ nét và cụ thể các chức năng hướng dẫn, gợi ý thực hiện các hoạt động học tập, giúp HS có thể chủ động và độc lập học tập theo sở thích và năng lực của mình.

Trong đó, cấu trúc bài phải khai thác được kinh nghiệm, kiến thức, kỹ năng đã có của học sinh; có phần xây dựng kỹ năng mới, giải thích, thực hành-vận dụng, đánh giá kiến thức trọng tâm. Phần cuối của cấu trúc chủ đề được trình bày dưới dạng sơ đồ (kèm hình ảnh) và có phần đánh giá kết quả cuối chủ đề/chương bao gồm cả đánh giá kiến thức, kỹ năng, thái độ và đánh giá năng lực vận dụng (kiến thức, kỹ năng...) giải quyết một nhiệm vụ trong học tập, đời sống. Tuỳ vào nội dung, có chủ đề/ chương trình yêu cầu HS giải quyết các bài tập bằng phương pháp dự án, điều tra hoặc tìm kiếm thông tin từ nhiều nguồn khác nhau...

PGS. TS Nguyễn Kế Hào, Phó Giám đốc Trung tâm Công nghệ Giáo dục, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam cho rằng nguyên tắc phát triển, quy định Chương trình-SGK cần đảm bảo: Lôgic phát triển của đối tượng (nội dung môn học), lôgic phát triển tâm sinh lí và nhu cầu cuộc sống của HS.

Mỗi cấp học có thể có vài ba bộ SGK khác nhau để HS, giáo viên lựa chọn, PGS. TS Nguyễn Kế Hào nêu quan điểm.

Tăng kênh hình, bớt chữ

SGK tiểu học ở nhiều nước hiện được trình bày trên khổ to, có nhiều hình, đa dạng, đẹp, ít chữ với phong cách nhẹ nhàng, gần gũi và hấp dẫn. HS có thể dựa vào các câu hỏi, yêu cầu và bài tập trong sách để tham gia các hoạt động trải nghiệm, thực hành dưới sự hỗ trợ của giáo viên để tìm tòi và khám phá kiến thức của bài học qua đó cũng dần hình thành các năng lực cho HS.

PGS. TS Nguyễn Tuyết Nga cho rằng sự phối hợp giữa kênh chữ ít nhưng dễ hiểu, gần gũi với HS với kênh hình đa dạng, vui nhộn sẽ giúp HS trải nghiệm, thực hành, tìm tòi và khám phá kiến thức, dần hình thành năng lực cho bản thân. Kênh hình ảnh được lựa chọn phải “đắt” về giá trị khoa học, về giá trị thẩm mĩ và tính giáo dục; hướng tới tính tổng thể để HS không chỉ khai thác những đối tượng riêng lẻ mà còn thấy được mối quan hệ, tương tác giữa các đối tượng.

Bộ SGK sẽ được triển khai theo mục chủ điểm, ứng với mỗi chủ điểm là một bài học với ba loại hoạt động. Bằng việc quan sát tranh, ảnh, HS bằng những kiến thức, kinh nghiệm đã biết bắt đầu chia sẻ; sự tham gia chia sẻ của các nhóm HS sẽ giúp hiểu biết của các em đầy đủ hơn. Bên cạnh đó, giáo viên đưa ra tình huống mới để giúp HS hình thành kiến thức mới; củng cố kiến thức mới bằng câu chuyện hoặc một trò chơi. Tiếp đến là các hoạt động thực hành và ứng dụng… GS.TS Nguyễn Minh Thuyết nêu ví dụ về một bài học của học sinh lớp 2.

Bài, ảnh: THU HÀ