QĐND - Gặp ông ở căn chòi lá cọ ven bờ hồ Thác Bà, nhìn ông thật khó khiến người ta nghĩ đây là một tỷ phú bởi vẻ bề ngoài của một nông dân thực thụ. Thậm chí, năm xưa còn có người gọi ông là “người điên” khi nhận mấy chục héc-ta đất trống, đồi trọc ở một số đảo trên hồ Thác Bà trồng rừng. Ông là cựu chiến binh (CCB) Lê Tiền Phương, 55 tuổi, ở thôn Đào Kiều, xã Thịnh Hưng, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái.

Khó khăn không lùi bước

Sau 6 năm phục vụ trong quân ngũ, đến năm 1986, ông Lê Tiền Phương phục viên trở về quê hương tham gia sản xuất nông-lâm nghiệp. Năm 1992, thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước và của tỉnh Yên Bái là khuyến khích các thành phần kinh tế, hộ gia đình, cá nhân nhận đất trồng rừng, phủ xanh đất trống, đồi trọc, ông Lê Tiền Phương đã cùng với gia đình mạnh dạn nhận 30ha đất rừng ở các đảo trên hồ Thác Bà để trồng rừng và phát triển kinh tế.

Nắng tháng Năm vàng như rót mật. Oi bức. Nóng nực. CCB Lê Tiền Phương chèo thuyền đưa chúng tôi ra thăm rừng của gia đình ông ở các hòn đảo trên hồ Thác Bà. Trước mắt chúng tôi, một màu xanh bạt ngàn của rừng cây bạch đàn, keo. Không khí ở đây dịu hẳn. Vừa chèo thuyền, ông Phương vừa chỉ lên phía những cây to trên đảo, giải thích: "Những cây to, cao ấy chính là số cây lim xanh tôi trồng từ những năm tháng đầu tiên gắn bó với rừng đấy!". Đồi bên cạnh là rừng bạch đàn tái sinh 1 năm tuổi. Chúng tôi cùng ông leo lên đảo đồi, tận mắt ngắm nhìn những cây lim có đường kính 30-40cm mới thấy hết công sức của ông và gia đình đã bỏ ra.

Ông Lê Tiền Phương bên rừng bạch đàn 3 năm tuổi.

Ông Lê Tiền Phương kể: Giai đoạn 1992-2000, sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Yên Bái gặp nhiều khó khăn do giá cả thị trường gỗ rừng trồng thấp, không ổn định, luôn bị tư thương ép giá. Bên cạnh đó, ông và những người trồng rừng ở huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái còn gặp khó khăn khi vay vốn ngân hàng lãi suất cao, thời gian vay vốn ngắn (1-3 năm); công tác quản lý chất lượng giống cây trồng lâm nghiệp chưa được quan tâm chú trọng. Trước đây, các gia đình, các lâm trường trong vùng trồng rừng chủ yếu bằng giống bồ đề và các loài bạch đàn tự thu hái, gieo ươm từ hạt nên năng suất, chất lượng rừng rất kém. Thu nhập từ việc trồng rừng sản xuất sau một chu kỳ của ông Lê Tiền Phương cũng như người dân nơi đây vì thế rất thấp. Khó khăn này khiến 12 người trồng rừng ở thôn Đào Kiều nản chí, “bỏ của chạy lấy người”. Khi đó, người thân trong gia đình, bạn bè và các cụ cao niên đều khuyên ông không nên trồng rừng nhưng không được, họ bảo ông là người “khùng điên”.

Những khó khăn, vất vả ấy không làm chùn ý chí của người CCB Lê Tiền Phương. Ông bảo: “Tính tôi đã định làm cái gì là phải làm đến cùng, bộ đội mà anh!”. Thế là sau nhiều đêm trăn trở, suy nghĩ về tiềm năng đất đai, lao động, trình độ canh tác và đúc rút kinh nghiệm qua sản xuất thực tế, ông đã nhận thức được vấn đề quyết định đến sự thành công hay thất bại trong sản xuất lâm nghiệp, nhất là công tác trồng rừng phải đặc biệt quan tâm đến chọn giống cây trồng. Sử dụng giống có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng, trồng rừng đúng quy trình kỹ thuật mới có thể đưa năng suất rừng tăng lên, góp phần phát triển kinh tế gia đình. Nghĩ là bắt tay vào làm, ông đã chọn mua giống cây ở những cơ sở, viện nghiên cứu có uy tín. Giá giống mua thường từ 2.000-3.000 đồng/cây, trong khi giống không rõ nguồn gốc ngoài thị trường chỉ 200-300 đồng/cây. Rót chén nước mời tôi, ông cho biết: Trồng rừng thành công hay thất bại thì giống là một yếu tố quyết định. Đặc biệt, sau khi trồng phải thường xuyên chăm sóc. Năm đầu tiên cực kỳ quan trọng, bởi nếu cây không được tưới, chăm sóc sẽ chết hoặc nếu có sống thì cũng còi cọc, chậm phát triển, năng suất thấp. "Cây non mới trồng xuống nó cũng giống như đứa trẻ mới chào đời ấy, phải chăm sóc thật tốt"-ông ví von. Ngoài ra, trồng cây không được quá thưa, cũng không được quá dày, bởi quá thưa khiến năng suất gỗ đạt thấp, cây sẽ bị gãy, đổ; nếu trồng quá dày, cây khó phát triển.

Nhờ kiên trì học hỏi, áp dụng kỹ thuật, chỉ sau một chu kỳ, năng suất rừng ông trồng đã tăng lên gấp 2 lần, lợi nhuận tăng 1,5 lần so với trước đây. Suốt 23 năm qua, người CCB đã gắn cuộc sống của gia đình mình với rừng. Trò chuyện với chúng tôi, ông Phương hồ hởi: “Mỗi năm, gia đình tôi khai thác 2-3ha, thu nhập đem lại từ rừng khoảng 200-250 triệu đồng/năm”.

Những năm gần đây, tỉnh Yên Bái đã kêu gọi đầu tư xây dựng thêm một số nhà máy chế biến gỗ rừng trồng, sản xuất giấy và bột giấy nên thị trường tiêu thụ gỗ rừng trồng được mở rộng, các sản phẩm khai thác từ rừng được tận dụng tối đa, đầu ra của sản phẩm gỗ phong phú, giá cả cao nên kinh tế đồi rừng phát triển mạnh. Hiện giá gỗ bạch đàn với đường kính từ 7-12cm giá 1,2-1,4 triệu đồng/m3, gỗ có đường kính từ 13cm trở lên giá hơn 1,6 triệu đồng/m3; gỗ keo tai tượng có đường kính dưới 20cm giá từ 1,2-1,5 triệu đồng/m3, gỗ có đường kính từ 20cm trở lên giá hơn 2 triệu đồng/m3. Đặc biệt, gỗ keo tai tượng có đường kính lớn từ 25cm trở lên giá bán hơn 3 triệu đồng/m3.

Với phương châm “lấy ngắn nuôi dài”, để phát triển kinh tế gia đình ổn định, tận dụng nguồn lực lao động dư thừa lúc nông nhàn, gia đình ông Lê Tiền Phương đã đầu tư chăn nuôi 20 con bò, 50 con dê dưới tán rừng và 4 lồng cá trên mặt nước hồ Thác Bà để có thêm thu nhập trang trải sinh hoạt hằng ngày và thêm vốn đầu tư cho trồng rừng. Thu nhập từ chăn nuôi gia súc và cá lồng đã mang lại cho ông Phương từ 200-250 triệu đồng/năm.

Người có tầm nhìn xa

Hơn 20 năm gắn bó với rừng, ông Phương chia sẻ, sản xuất lâm nghiệp luôn tiềm ẩn những rủi ro cao do chu kỳ sản xuất, kinh doanh dài ngày, giá cả thị trường không ổn định. Nhờ sự động viên, ủng hộ và tạo điều kiện của các cấp chính quyền địa phương, cơ quan quản lý Nhà nước của tỉnh, huyện trong suốt quá trình thực hiện cùng với niềm tin và mong muốn làm giàu từ trồng rừng sản xuất mà ông mới có thành công như hôm nay. Không chỉ tham gia các lớp bồi dưỡng, tập huấn kỹ thuật, quy trình sản xuất giống cây lâm nghiệp, trồng rừng thâm canh do các cơ quan Nhà nước tổ chức, CCB Lê Tiền Phương còn chủ động tham quan, học hỏi kinh nghiệm một số nơi và đặc biệt là tự đúc rút kinh nghiệm trong quá trình trồng rừng hằng năm. Nhờ biết kết hợp chăn nuôi gia súc, "lấy ngắn nuôi dài", ông đã tạo được nguồn thu ổn định, bảo đảm chi phí cho sinh hoạt cũng như tái đầu tư trồng, chăm sóc rừng theo hướng phát triển bền vững.

Ông Phương cho biết: "Nhu cầu gỗ xẻ của thị trường trong và ngoài tỉnh sẽ đem lại nguồn thu nhập cao hơn hẳn so với kinh doanh gỗ nhỏ làm nguyên liệu. Vì vậy, tôi đã quyết định không vội khai thác mà chuyển toàn bộ 17ha keo tai tượng 7 năm tuổi (đường kính trung bình đã đạt 20-22cm) sang xây dựng mô hình kinh doanh gỗ lớn với chu kỳ từ 12-15 năm để nâng cao năng suất, chất lượng gỗ và quan trọng hơn là nâng cao giá trị về mặt kinh tế từ rừng, tạo nguồn thu lớn cho gia đình sau 7 năm nữa".

Theo CCB Lê Tiền Phương, hiện nay, thị trường tiêu thụ lâm sản đã ổn định, có chiều hướng tăng lên, tư thương đến tận chân đồi thỏa thuận, tạo tâm lý tin tưởng, yên tâm đầu tư cho gia đình ông và những người trồng rừng. Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất trong sản xuất lâm nghiệp hiện nay là chính sách tín dụng cho các hộ gia đình, cá nhân đầu tư trồng rừng thâm canh do đặc thù của sản xuất kinh doanh lâm nghiệp kéo dài từ 5-7 năm. Để gỗ lớn thì rừng trồng phải hơn 10 năm tuổi, đặc biệt một số loài cây cần đến 30 năm hoặc hơn nữa. Hiện nay, các ngân hàng thương mại thường cho vay vốn với thời gian ngắn (từ 1-3 năm), lãi suất cao, hạn mức vốn vay hạn chế (10-50 triệu đồng/hộ) đã gây không ít khó khăn cho việc phát triển trồng rừng của các hộ tại địa phương. Vì thiếu vốn, rất nhiều hộ phải “bán rừng non” khi rừng mới 4 năm tuổi để trả ngân hàng, dẫn tới năng suất, chất lượng rừng thấp.

Yên Bái là một tỉnh có điều kiện đất đai phù hợp với sinh trưởng và phát triển các cây keo, đặc biệt cây keo tai tượng có khả năng lớn trong việc sản xuất kinh doanh gỗ lớn phục vụ nhu cầu của thị trường gỗ xẻ công nghiệp, đóng đồ gia dụng. Thực tế tại địa phương cho thấy, những diện tích rừng trồng keo tai tượng 10 năm trở lên cho năng suất, chất lượng gỗ rất cao, thu nhập tăng từ 1,5-2 lần so với chu kỳ kinh doanh 5-6 năm. Vì vậy, người dân địa phương đã và đang mạnh dạn chuyển kinh doanh rừng theo hướng sản xuất gỗ lớn để đáp ứng nhu cầu thị trường.

Để tăng giá trị của rừng sản xuất thì cây phải đủ độ tuổi, gỗ lớn thì mới nâng cao giá trị kinh tế trên một đơn vị diện tích đối với sản xuất lâm nghiệp, phù hợp với việc tái cơ cấu ngành lâm nghiệp hiện nay. Do đó, ông Phương kiến nghị với Đảng, Nhà nước, các bộ, ngành Trung ương cần ban hành cơ chế, chính sách hỗ trợ cho các hộ gia đình, cá nhân đầu tư trồng rừng gỗ lớn, cải tạo rừng trồng gỗ nhỏ sang kinh doanh gỗ lớn.

Mô hình trồng rừng sản xuất giá trị cao đã giúp gia đình CCB Lê Tiền Phương không chỉ thoát nghèo mà còn vươn lên làm giàu từ rừng. Ông chính là một trong những điển hình góp phần thực hiện thắng lợi chủ trương của Đảng, Nhà nước về tái cơ cấu ngành lâm nghiệp, phát triển lâm nghiệp bền vững, thực hiện xóa đói, giảm nghèo, vươn lên làm giàu từ nghề rừng.

Bài và ảnh: NGUYỄN KIỂM