Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị đặt mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam sẽ làm chủ một số công nghệ chiến lược, trong đó có công nghệ mạng di động 5G, 6G. Gần đây, một số doanh nghiệp Việt Nam đã bắt đầu nghiên cứu thử nghiệm công nghệ 6G dựa trên những kết quả đạt được trong việc triển khai 5G thời gian qua. Vì vậy, việc dự báo năng lực làm chủ công nghệ 6G của Việt Nam trong thời gian tới nhận được sự quan tâm tại họp báo.

Liên quan đến nội dung này, đồng chí Nguyễn Anh Cương, Phó cục trưởng Cục Viễn thông (Bộ Khoa học và Công nghệ) cho biết, tính đến đầu năm 2026, các doanh nghiệp viễn thông của Việt Nam đã lắp đặt hơn 40.000 trạm sóng 5G, đạt tỷ lệ phủ sóng 5G xấp xỉ 92% dân số.

Phó cục trưởng Cục Viễn thông Nguyễn Anh Cương đánh giá, dù không phải quốc gia triển khai 5G sớm trên thế giới, tuy nhiên, tốc độ triển khai và mở rộng vùng phủ sóng 5G của Việt Nam lại thuộc Top đầu thế giới. Vì nhiều nước tiên tiến trên thế giới cũng mất từ 2-3 năm để đạt tỷ lệ phủ sóng 80% dân số. Qua đó thể hiện năng lực của Việt Nam trong việc làm chủ, triển khai, tối ưu mạng lưới 5G.

 Quang cảnh họp báo của Bộ Khoa học và Công nghệ.

Về làm chủ thiết bị 5G, Phó cục trưởng Cục Viễn thông Nguyễn Anh Cương cho biết, các doanh nghiệp Việt Nam đã nghiên cứu, sản xuất và thương mại hóa thành công thiết bị 5G theo chuẩn quốc tế. Hiện nay, trong hơn 40.000 trạm 5G đang hoạt động trên cả nước thì có khoảng 2.500 trạm do Việt Nam tự sản xuất (chiếm trên 6%). Cục Viễn thông đặt mục tiêu tiếp tục nâng cao tỷ lệ này trong thời gian tới.

Về định hướng và khả năng làm chủ công nghệ 6G của Việt Nam, đồng chí Nguyễn Anh Cương nhận định, công nghệ viễn thông có tính chất đặc thù, không thể nghiên cứu riêng lẻ mà cần phối hợp làm việc, tạo đồng thuận, thống nhất giữa các quốc gia trên thế giới để bảo đảm mạng lưới vận hành trơn tru trên toàn cầu.

Phó cục trưởng Cục Viễn thông Nguyễn Anh Cương trả lời câu hỏi của báo chí. 

Để sẵn sàng cho việc tham gia nghiên cứu, chuẩn hóa và làm chủ công nghệ 6G, Bộ Khoa học và Công nghệ đã thành lập ban chỉ đạo thúc đẩy nghiên cứu và phát triển công nghệ 6G, bao gồm các cơ quan quản lý về viễn thông, tần số, doanh nghiệp và các trường đại học, viện nghiên cứu về công nghệ 6G.

Việc này giúp các doanh nghiệp, viện, trường đại học tiếp cận được công nghệ 6G ngay từ giai đoạn hình thành, đồng thời có thể tham gia cùng nghiên cứu, xây dựng tiêu chuẩn 6G, từ đó sớm ra mắt công nghệ và chủ động trong việc triển khai công nghệ 6G phù hợp với điều kiện của Việt Nam.

Đánh giá về khả năng làm chủ công nghệ 6G của Việt Nam, Phó cục trưởng Cục Viễn thông Nguyễn Anh Cương cho rằng, với nền tảng kinh nghiệm đã tích lũy từ 4G và 5G, Việt Nam hoàn toàn có cơ sở để rút ngắn thời gian làm chủ công nghệ 6G trong thời gian tới.