Về nguyên tắc, việc tổ chức các hoạt động tăng cường ngoại ngữ, tin học, kỹ năng sống hay trải nghiệm là cần thiết, phù hợp với yêu cầu phát triển toàn diện học sinh trong bối cảnh hội nhập. Tuy nhiên, điều đáng lo ngại là ở không ít nơi, các chương trình liên kết đã được bố trí đan cài vào thời khóa biểu bắt buộc, khiến “tự nguyện” không còn là sự lựa chọn thực chất.

Thực tế cho thấy, nhiều phụ huynh buộc phải chấp nhận đăng ký cho con theo học các môn liên kết vì nếu không tham gia, học sinh không có phương án học tập hay sinh hoạt thay thế phù hợp. Chị Trần Thu Hà có con đang theo học tại một trường Tiểu học ở phường Thanh Xuân (Hà Nội), cho biết: “Với học sinh tiểu học, việc phải rời lớp giữa buổi học chính khóa không chỉ gây xáo trộn tâm lý mà còn đặt chúng tôi vào tình thế không thể từ chối. Với một đứa trẻ mới lớp 2, không phụ huynh nào yên tâm. Cuối cùng, đa số đều chọn đăng ký, dù trong lòng không thực sự thoải mái”.

Đáng chú ý, cùng với chi phí, chất lượng các chương trình liên kết cũng chưa được kiểm chứng tương xứng. Không ít hoạt động mang danh trải nghiệm, kỹ năng nhưng nội dung nghèo nàn, thiếu đội ngũ giảng dạy chuyên môn, hiệu quả giáo dục mờ nhạt. Nếu không được kiểm soát chặt chẽ, các hoạt động này rất dễ trượt khỏi mục tiêu bổ trợ, trở thành hình thức thu phí trá hình trong trường công lập.

Một giờ học của học sinh tiểu học trên địa bàn xã Chư Prông, tỉnh Gia Lai. Ảnh: NGUYỄN HUYỀN

Ở góc độ quản lý, vấn đề đặt ra không phải là “có hay không” dạy học liên kết, mà là tổ chức và kiểm soát như thế nào. Trao đổi với phóng viên, ông Hoàng Ngọc Vinh, nguyên Vụ trưởng Vụ Giáo dục chuyên nghiệp (Bộ Giáo dục và Đào tạo), cho rằng những bất cập hiện nay xuất phát từ lỗ hổng trong quản trị nhà trường và thiếu các ràng buộc đủ mạnh. Theo ông, mọi chương trình có thu phí phải được “khóa chặt” ngoài khung thời khóa biểu bắt buộc; học sinh không tham gia vẫn phải có phương án sinh hoạt, học tập hoặc trông giữ thay thế rõ ràng.

Cùng với đó, hoạt động liên kết cần được chuẩn hóa và minh bạch từ khâu lựa chọn đối tác, ký kết hợp đồng, xây dựng mức thu, chi đến cơ chế miễn, giảm cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn. Việc công khai và giám sát cộng đồng không chỉ để bảo đảm quyền lợi người học, mà còn là thước đo trách nhiệm giải trình của nhà trường và cơ quan quản lý.

Về lâu dài, giải pháp căn cơ vẫn là tăng cường năng lực của hệ thống giáo dục công lập. Những lĩnh vực cốt lõi như ngoại ngữ, tin học, STEM cần được đầu tư đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất tương xứng, tránh tình trạng “thiếu đâu thuê đó”, biến dịch vụ thành phần thay thế cho chương trình chính thức.

Giáo dục công lập là nền tảng của giáo dục phổ cập, nơi mọi học sinh đều phải được tiếp cận tri thức trong điều kiện công bằng. Vì vậy, việc siết chặt quản lý nhà nước đối với hoạt động liên kết giáo dục không chỉ nhằm chấn chỉnh những lệch lạc hiện nay, mà còn để khẳng định nguyên tắc xuyên suốt, lấy học sinh làm trung tâm, lấy kỷ cương làm điểm tựa, và không để gánh nặng chi phí làm xói mòn bản chất nhân văn của giáo dục công lập.