Phóng viên (PV): Đề nghị giáo sư cho biết tầm quan trọng của viê%3ḅc sửa đổi, bổ sung Luâ%3ḅt Giáo dục Đại học (GDĐH) lần này?
GS, TSKH Vũ Minh Giang: Bắt đầu từ năm 2013, Luâ%3ḅt GDĐH có hiê%3ḅu lực đã đưa những quy định có tính pháp lý vào GDĐH. Phạm vi điều chỉnh từ đào tạo cao đẳng trở lên. Trước khi có Luâ%3ḅt GDĐH, các trường đại học đều không hiểu mình nằm ở đâu trong hê%3ḅ thống giáo dục của Viê%3ḅt Nam. Luâ%3ḅt GDĐH năm 2013 đã quy định rõ ràng điều này. Đây là bước tiến lớn trong việc chính danh hóa, pháp luâ%3ḅt hóa nhiều nội dung quan trọng của GDĐH. Ngay sau khi Luâ%3ḅt GDĐH có hiệu lực, Trung ương ban hành Nghị quyết 29 về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT, nhằm chuyển từ một nền giáo dục tiếp câ%3ḅn nội dung, chú trọng truyền thụ kiến thức sang một nền giáo dục tiếp cận năng lực, chú trọng phương pháp, kỹ năng, rèn luyện năng lực và phẩm chất con người, đáp ứng yêu cầu về nguồn nhân lực mới cho đất nước, phù hợp với xu thế thời đại.
Tuy nhiên, sau 5 năm thực hiê%3ḅn, Luâ%3ḅt GDĐH bô%3ḅc lô%3ḅ nhiều điểm hạn chế và không còn phù hợp với thực tiễn của GDĐH hiê%3ḅn nay. Trong đó có những vấn đề lớn như phân định giữa quản lý Nhà nước với các cơ sở GDĐH; tự chủ đại học; mối quan hệ giữa công lập và tư thục; phân tầng đại học… cần được đưa vào luâ%3ḅt mô%3ḅt cách cụ thể hơn.
PV: Vấn đề nào trong Dự thảo nhâ%3ḅn được sự quan tâm nhiều nhất của các cơ sở GDĐH hiê%3ḅn nay, thưa giáo sư?
GS, TSKH Vũ Minh Giang: Bốn nô%3ḅi dung lớn được sửa đổi, bổ sung trong Dự thảo lần này đều quan trọng. Vấn đề tự chủ đại học được các nhà trường quan tâm nhiều nhất. Tự chủ cần được hiểu là một thuộc tính của GDĐH. Thuộc tính này bắt nguồn từ một trong những chức năng quan trọng của các trường đại học là tham gia sáng tạo ra tri thức mới. Đây là điều phân biệt căn bản giữa GDĐH với giáo dục phổ thông. Để có thể sáng tạo tri thức mới, điều quan trọng nhất của quyền tự chủ là về học thuật, tiếp đó là tự chủ về nhân sự và tài chính.
Sinh viên Trường Đại học Thủy lợi trong giờ học tại phòng máy.
Vai trò quản lý của Nhà nước nằm ở chỗ xây dựng chiến lược, quy hoạch, định hướng, đồng thời kiểm tra, giám sát việc thực hiện các văn bản pháp quy và chất lượng đào tạo. Theo đó, các cơ sở đào tạo không phải chỉ được đào tạo những ngành đã có trong danh mục mà có thể mở những ngành mới, nhưng phải tuân thủ các quy định của pháp luật. Phân tầng đại học cũng cần được xem như một quy luật tự nhiên của GDĐH, chứ không phải là một kiểu phân thứ bậc theo áp đặt chủ quan. GDĐH thực chất là hoạt động phục vụ thị trường lao động trình độ cao hoặc có tay nghề. Thị trường ấy không đồng nhất và cũng không nhất loạt đòi hỏi mọi sản phẩm đều phải thuộc loại “chất lượng cao”. Yêu cầu tất cả các trường đại học, cao đẳng, dạy nghề đều có chất lượng cao là duy ý chí và không đúng quy luật. Tính tự chịu trách nhiệm của các cơ sở GD&ĐT một phần được hình thành do quy luật này. Mỗi cơ sở phải tự chịu trách nhiệm về chất lượng và uy tín, thương hiệu của mình. Vai trò quản lý của Nhà nước là đưa ra những quy định về tiêu chuẩn cho các cơ sở về điều kiện được đào tạo các cấp độ khác nhau, các loại hình ngành nghề và yêu cầu giải trình đối với các cơ sở đào tạo… Luật GDĐH phải phủ được các yêu cầu cơ bản này.
PV: Dự thảo đang được đưa ra lấy ý kiến rô%3ḅng rãi, giáo sư có ý kiến gì?
GS, TSKH Vũ Minh Giang: Dự thảo cần làm rõ thuô%3ḅc tính của GDĐH. Để thực hiê%3ḅn được mục tiêu của GDĐH là đáp ứng nguồn nhân lực trình độ cao đồng nghĩa với viê%3ḅc không thể đồng đều. Yêu cầu chất lượng phải căn cứ trên nhu cầu khác nhau của thị trường lao đô%3ḅng. Vì thế, cần xác định được sự phân tầng, phân lớp trong GDĐH là cần thiết và quan trọng. Chúng ta cần chấp nhâ%3ḅn sự khác biê%3ḅt giữa các trường. Các trường có năng lực tốt thì có thể đào tạo ở mức đô%3ḅ cao. Các trường ở mức đô%3ḅ thấp hơn cũng cần cân nhắc năng lực đào tạo của mình trên cơ sở nhu cầu của thị trường lao đô%3ḅng để có công tác đào tạo phù hợp.
Dự thảo cũng cần hướng tới viê%3ḅc đào tạo gắn với thực tiễn cao hơn, phù hợp hơn với xu thế thế giới. Chẳng hạn như hình thức đào tạo theo phương thức tín chỉ là phù hợp với GDĐH. Tuy nhiên, Dự thảo cần xem lại việc quy định đồng thời số tín chỉ cần tích lũy với quy định về số năm cho mỗi trình độ dường như vẫn còn đậm tư duy niên chế.
Mô%3ḅt số điểm khác về mặt diễn đạt và kỹ thuâ%3ḅt mà Dự thảo cần chú ý. Ở nhiều chỗ còn có mâu thuẫn. Chẳng hạn tại Khoản 3, Điều 18 Hội đồng trường quy định số lượng thành viên phải là số lẻ, nhưng ở Điểm b, Khoản 5 của chính điều này lại ghi trong trường hợp số phiếu ngang nhau thì phiếu của chủ tịch là quyết định. Số lượng hội đồng là số lẻ chính là để loại trừ trường hợp này.
Bên cạnh đó, nên cân nhắc việc sử dụng cụm từ Bô%3ḅ trưởng Bô%3ḅ GD&ĐT mà trong một số trường hợp nên để là Bô%3ḅ GD&ĐT thì sẽ hợp lý hơn.
PV: Theo giáo sư, để Dự thảo nhâ%3ḅn được những ý kiến thiết thực, Bô%3ḅ GD&ĐT nên bắt đầu từ đâu?
GS, TSKH Vũ Minh Giang: Bên cạnh công tác tuyên truyền và kêu gọi sự đóng góp ý kiến rô%3ḅng rãi của nhân dân thì Bô%3ḅ GD&ĐT cần tổ chức các hô%3ḅi nghị lớn, quy tụ các giáo sư, nhà quản lý giáo dục để viê%3ḅc đóng góp ý kiến cho Dự thảo mô%3ḅt cách thiết thực, hiệu quả hơn. Bô%3ḅ GD&ĐT cũng cần chỉ đạo các trường đại học phải tổ chức nghiên cứu Dự thảo luâ%3ḅt, có các chuyên đề nghiên cứu và đóng góp mô%3ḅt cách nhiêm túc.
PV: Trân trọng cảm ơn Giáo sư!
DUY VĂN (thực hiện)