Hệ thống đào tạo giáo viên bộc lộ nhiều hạn chế

Tại hội thảo, TS Nguyễn Hải Thập, Phó cục trưởng Cục Nhà giáo và cán bộ quản lý cơ sở giáo dục nhận định: “Với mạng lưới trường sư phạm như hiện nay thì nhiệm vụ của hệ thống sư phạm về cơ bản đã đáp ứng được mục tiêu về trang bị số lượng nhà giáo và các cơ sở giáo dục, đáp ứng được yêu cầu phát triển của đất nước. Nhưng bắt đầu đến thời điểm này, đội ngũ giáo viên hiện có chiều hướng bão hòa. Như vậy, nếu chúng ta vẫn tiếp tục đào tạo như hiện nay thì ngày càng có nhiều sinh viên ra trường sẽ không có việc làm; việc đào tạo sẽ không nằm trong quy hoạch mà Nhà nước mong muốn. Do đó, Bộ Giáo dục-Đào tạo cần nghiên cứu để có báo cáo với Chính phủ về việc quy hoạch mạng lưới các trường sư phạm. Theo đó, có một số trường sẽ thực hiện đào tạo chuyên sâu, một số trường sẽ chuyển đổi hình thức đào tạo hoặc ngành đào tạo.”

Phó cục trưởng Cục Nhà giáo và cán bộ quản lý cơ sở giáo dục Nguyễn Hải Thập phát biểu tại hội thảo.  

Còn theo PGS, TS Bùi Văn Quân, hiệu trưởng Trường Đại học Thủ đô Hà Nội, cho dù tăng số học sinh/giáo viên bình quân lên tương đương các nước công nghiệp phát triển thì đến năm 2020, hệ thống cũng không thể tuyển dụng hết số giáo viên mới tốt nghiệp ra trường, vẫn thừa khoảng 41 nghìn đối với tiểu học, hơn 12 nghìn đối với trung học cơ sở và gần 17 nghìn đối với trung học phổ thông.

Hiện nay, trên cả nước có 108 cơ sở đào tạo giáo viên mầm non và giáo viên phổ thông, bao gồm 9 trường đại học (ĐH) sư phạm; 1 trường ĐH giáo dục; 31 khoa, ngành sư phạm trong các trường ĐH đa ngành; 35 trường CĐ sư phạm; 19 khoa, ngành sư phạm trong các trường cao đẳng (CĐ) đa ngành; 3 trường trung cấp sư phạm và 10 trường trung cấp chuyên nghiệp (TCCN).

Chỉ trừ tỉnh Đắk Nông, mỗi tỉnh, thành phố có ít nhất một cơ sở đào tạo giáo viên. Trong đó, vùng miền núi và trung du phía Bắc có 19 cơ sở, đồng bằng sông Hồng có 26 cơ sở, Bắc Trung Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ có 23 cơ sở, Tây Nguyên 8 cơ sở, Đông Nam Bộ có 18 cơ sở, đồng bằng Sông Cửu Long có 14 cơ sở. Bộ Giáo dục-Đào tạo quản lý 5 trường ĐH sư phạm và 3 trường CĐ sư phạm; ĐH Quốc gia Hà Nội quản lý 1 trường ĐH giáo dục. Các đại học vùng quản lý 3 trường ĐH sư phạm. UBND các tỉnh và thành phố quản lý 35 trường CĐ sư phạm, 3 trường trung cấp sư phạm và 10 trường trung cấp chuyên nghiệp. Các trường ĐH, trường CĐ quản lý khoa/ngành sư phạm.

Bên cạnh đó, theo PGS, TS Nguyễn Mạnh An, Hiệu trưởng Trường Đại học Hồng Đức, thực tế, đầu vào của thí sinh trúng tuyển vào học tập tại các trường đại học địa phương tương đối thấp về mặt chất lượng làm ảnh hưởng đến chất lượng đầu ra, trong đó có đội ngũ giáo viên.

Theo nhận định của ông Bùi Văn Quân, cơ cấu mạng lưới các cơ sở đào tạo giáo viên, nhất là cơ cấu theo địa bàn lãnh thổ (mỗi tỉnh/thành phố có ít nhất 1 cơ sở đào tạo giáo viên) và phương thức đào tạo giáo viên truyền thống (đào tạo song song) đã hoàn thành vai trò, sứ mệnh lịch sử của nó.

Tuy nhiên, hệ thống đào tạo giáo viên bộc lộ những hạn chế cơ bản như việc phát triển mạng lưới cơ sở đào tạo giáo viên chưa thực sự xuất phát từ nhu cầu phát triển giáo viên. Mạng lưới cơ sở đào tạo giáo viên phát triển trong tình trạng thiếu ổn định do nhiều trường CĐ sư phạm yếu cả về cơ sở vật chất và đội ngũ giảng viên được nâng cấp lên ĐH, hoặc đổi tên để mở rộng tuyển sinh đào tạo trình độ ĐH các ngành sư phạm và ngoài sư phạm. Hầu hết các cơ sở đào tạo giáo viên tập trung chủ yếu vào việc đào tạo mới và đào tạo nâng cao trình độ, chưa quan tâm đúng mức đến hoạt động đào tạo lại và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên. Bên cạnh đó, công tác quản lý hệ thống, các quy định về tiêu chuẩn, quy trình, chuẩn mực quản lý hoạt động đào tạo, cũng như công cụ và cơ chế kiểm soát chất lượng đào tạo sư phạm còn nhiều bất cập; mô hình/phương thức đào tạo giáo viên chậm được thể chế hóa.

Giờ học của sinh viên Đại học Sư phạm Hà Nội. Ảnh: TTXVN.

Giáo viên phải là người lao động nghề nghiệp chuyên nghiệp

Theo PGS, TS Bùi Văn Quân, việc xây dựng mạng lưới cơ sở đào tạo và tổ chức mô hình/phương thức đào tạo giáo viên phải xuất phát từ quan điểm “giáo viên là người lao động nghề nghiệp chuyên nghiệp”. Quan điểm trên đặt ra những tiêu chuẩn xác định cho đào tạo giáo viên và đòi hỏi người làm công tác đào tạo ở các cơ sở đào tạo giáo viên phải là những người chuyên nghiệp trong đào tạo giáo viên. "Trong thời gian tới, cần có những nghiên cứu đánh giá các mô hình/phương thức đào tạo giáo viên hiện nay", PGS, TS Bùi Văn Quân nhận định.

Bên cạnh đó, thiết kế cơ cấu các cơ sở đào tạo giáo viên phải dựa trên dự báo nhân lực giáo dục với sự đa dạng các phương án. Cụ thể, thiết kế cơ cấu mạng lưới cơ sở đào tạo giáo viên phải tính đến cả tình huống của “khủng hoảng thiếu giáo viên” và bảo đảm đáp ứng nhu cầu cơ cấu giáo viên về trình độ đào tạo. Thiết kế cơ cấu mạng lưới cơ sở đào tạo giáo viên phải chú ý đến tính đa dạng về mô hình/phương thức đào tạo.

Còn PGS, TS Nguyễn Mạnh An cho rằng, hiện tại cần có cơ chế, chính sách để thu hút được đông đảo các học sinh giỏi vào học các ngành sư phạm tại các trường đại học địa phương. Theo ông Nguyễn Mạnh An, thực tế, đầu vào của thí sinh trúng tuyển vào học tập tại các trường đại học địa phương tương đối thấp về mặt chất lượng làm ảnh hưởng đến chất lượng đầu ra, trong đó có đội ngũ giáo viên. Điều này cần phải tăng cường hợp tác giữa các trường đại học địa phương với nhau và hợp tác giữa các trường đại học địa phương với các trường đại học có uy tín. Thông qua đó phát triển chương trình đào tạo, tăng cường chuyên gia trong đào tạo và hợp tác trong khoa học và công nghệ.

“Các trường đại học địa phương nên có các lớp chất lượng cao về một số ngành mũi nhọn. Đây sẽ là các lớp thu hút được các thí sinh đầu vào có chất lượng; đồng thời tạo cơ chế, điều kiện tốt cho các em sinh viên học tập; dạy bằng chương trình tiếng Anh; đào tạo gắn với sử dụng. Đây là con đường trực tiếp đào tạo được đội ngũ giáo viên có chất lượng”, PGS, TS Nguyễn Mạnh An khẳng định.

Còn GS, TSKH Dương Ngọc Hải, Phó chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học Công nghệ Việt Nam, Giám đốc Học viện Khoa học Công nghệ nhận định, việc giảng dạy gắn với nghiên cứu khoa học đã là xu thế chung. Đại học nghiên cứu phải có vai trò chính trong đào tạo giảng viên vừa có kỹ năng sư phạm vừa có năng lực nghiên cứu khoa học. 

“Hiện nay, nhận thức tầm quan trọng của nghiên cứu khoa học trong đào tạo giảng viên chưa đầy đủ. Nguyên nhân một phần là do kinh phí nghiên cứu còn ít và thiếu giảng viên làm nghiên cứu khoa học. Nếu là trường đại học nghiên cứu thì cả 2 vấn đề này có thể được giải quyết. Chiến lược phát triển ngành sư phạm trong mạng lưới các trường đại học cần phải nâng cao để phù hợp với xu hướng chung trên thế giới: Nghiên cứu gắn với giảng dạy và đào tạo”, GS, TSKH Dương Ngọc Hải nhấn mạnh.

Cũng tại hội thảo, một số giảng viên đã trình bày mô hình đào tạo giáo viên phổ thông ở Israel và kinh nghiệm cho Việt Nam. Theo đó, tại Israel, đến hết 3 năm học đầu tiên, các sinh viên mỗi tuần chỉ học ba ngày tại trường cao đẳng Sư phạm, 2 ngày còn lại đi thực tế sư phạm tại trường phổ thông. Mỗi năm học sẽ có 2 tuần không có giờ học ở trường CĐ, ĐH, để dành toàn thời gian đi thực tế sư phạm ở trường phổ thông. Đến năm thứ 4, sinh viên sẽ dành phần lớn thời gian thực tập ở các trường phổ thông. Hai năm đầu sau khi tốt nghiệp, các sinh viên sẽ được tham gia vào các buổi hội thảo dành cho giáo viên mới do trường CĐ, ĐH tổ chức; được các giáo viên phổ thông giàu kinh nghiệm hướng dẫn và đồng thời được tư vấn bởi bộ phận tư vấn của Bộ Giáo dục Israel. Thực tế, sinh viên Israel được dành khoảng 15 tín chỉ thực tập, trong khi sinh viên Việt Nam chỉ dành khoảng 3-5 tín chỉ cho thực tập sư phạm. Do đó, theo các đại biểu, mô hình đào tạo giáo viên phổ thông tại Israel có thể áp dụng vào thực tế tại Việt Nam nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng giáo viên.

Bài, ảnh: NGUYỄN THẢO