Để vươn tới sự bình đẳng giới, ngoài những giải pháp vĩ mô mang tính đồng bộ, lâu dài, cần phải có những việc làm cụ thể, thiết thực hơn nữa. Trong đó, việc tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức về việc nam nữ được bình đẳng về mọi lĩnh vực theo quy định của Hiến pháp năm 2013 và Luật Bình đẳng giới năm 2006 cần phải được tiến hành thường xuyên, bền bỉ, phù hợp với từng đối tượng, trong đó có học sinh phổ thông.
Theo số liệu công bố mới đây của Bộ Giáo dục và Đào tạo và tổ chức UNESCO tại Việt Nam, chương trình sách giáo khoa hiện tại ở nước ta còn nhiều nội dung, hình ảnh mang định kiến giới. Qua khảo sát và phân tích 76 cuốn sách giáo khoa của 6 môn học từ lớp 1 đến lớp 12 cho thấy, trong tổng số 8.276 nhân vật trong nội dung văn bản, nam chiếm 69%, nữ chỉ có 24%, còn lại 7% là trung tính. Về hình ảnh, trong tổng số 7.987 hình ảnh thì nam chiếm 58%, nữ chiếm 41%, còn lại là trung tính hoặc không rõ giới tính. Những ví dụ trong sách giáo khoa về các nhân vật quan trọng, nổi tiếng có tới 95% là nhân vật nam. Sau khi khảo sát 3 cuốn sách giáo khoa (Tự nhiên xã hội lớp 1, Giáo dục công dân lớp 6 và Giáo dục công dân lớp 10), một chuyên gia đã đưa ra nhận xét rằng, những cuốn sách này xuất hiện không ít hình ảnh khuôn mẫu về giới. Ví như các bà mẹ, em gái thì chỉ làm những công việc trong nhà như nấu cơm, trồng cây, chăm sóc trẻ nhỏ…; còn các hoạt động vui chơi, giao lưu bên ngoài xã hội thì gắn liền với hình ảnh nam giới. Qua những minh họa trong sách giáo khoa về ngành nghề của nam và nữ cũng dễ thấy cách nhìn nhận chưa công bằng, đó là nam giới thì đại diện cho công an, bác sĩ, kỹ sư; còn nữ giới thì gắn với nghề nội trợ, làm vườn, chăn nuôi… Những hình ảnh đó vô hình trung đã “tiêm nhiễm” vào tâm hồn, suy nghĩ, nhận thức của học sinh về sự bất bình đẳng giới ngay từ khi các em ngồi trên ghế nhà trường.
Để góp phần thúc đẩy bình đẳng giới, đã đến lúc các nhà làm sách giáo khoa cho chương trình giáo dục phổ thông mới cần phải tạo sự cân đối về hình ảnh, vai trò, nghề nghiệp, khả năng cống hiến… của cả phụ nữ và nam giới trong nội dung bài học, hình ảnh minh họa. Đồng thời tăng cường hơn nữa các nội dung thông tin, hình ảnh tích cực về phụ nữ, tạo dựng thông điệp rằng phụ nữ có thể đảm nhận mọi công việc và gánh vác các vị trí xã hội như nam giới; tránh tình trạng lặp lại khuôn mẫu là nữ giới chỉ gắn với công việc nội trợ gia đình, làm những việc “be bé, cỏn con”, "quanh đầu giàn góc bếp"; còn nam giới thì được vui chơi, du lịch và gắn liền với hình ảnh lãnh đạo, quản lý!
Sách giáo khoa được biên soạn với một quy trình chặt chẽ, khoa học để phục vụ công tác giáo dục trong nhà trường và cung cấp, trang bị những kiến thức cơ bản, cần thiết cho học sinh. Với một hệ thống kiến thức khoa học, chính xác, những bài học trong sách giáo khoa sẽ ăn sâu vào tiềm thức, trí nhớ của mỗi người hầu như suốt cuộc đời. Do đó, việc kiến tạo, thiết kế nội dung chương trình trong sách giáo khoa phổ thông từ lớp 1 đến lớp 12 trong thời gian tới cần phải bảo đảm làm sao để học sinh có nhận thức đầy đủ, đúng đắn về bình đẳng giới ngay trong mỗi bài học, tiết học, môn học và trong suốt quá trình dạy học. Đó cũng là một cách gây dựng nền tảng về kiến thức bình đẳng giới cho các chủ nhân tương lai của nước nhà.
Làm sách giáo khoa không đơn thuần chỉ nhằm truyền bá, cung cấp, làm giàu tri thức cho học sinh, mà qua đó còn góp phần bồi dưỡng, vun đắp cho các em luôn có thái độ, hành vi ứng xử văn hóa đối với cộng đồng, xã hội, thiên nhiên và môi trường. Trong đó, từ nhận thức, quan niệm đến giao tiếp, ứng xử đối với nữ giới sao cho đúng mực, nhân văn cần được xác định là một trong những yếu tố quan trọng làm nên nhân cách văn hóa của học sinh Việt Nam trong thời đại văn minh trí tuệ.
Thạc sĩ NGUYỄN VĂN THI