Phóng viên (PV): Thượng tướng có thể cho biết mục đích của Giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới Việt Nam-Trung Quốc lần thứ 3?
Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh: Trong quan hệ đối ngoại với các nước, Việt Nam có nhiều mức độ quan hệ khác nhau. Trong đó, Việt Nam coi trọng quan hệ với các nước láng giềng, đặc biệt là các nước có chung đường biên giới như Trung Quốc, Lào và Cam-pu-chia. Với Trung Quốc, hai nước đã phân định được đường biên giới trên bộ, vịnh Bắc Bộ. Trên cơ sở kết quả phân định biên giới trên bộ, Việt Nam và Trung Quốc đã hoàn thành công tác phân giới, cắm mốc theo đúng luật pháp quốc tế, tôn trọng chủ quyền của nhau.
Xây dựng đường biên giới hòa bình, ổn định và phát triển là việc hệ trọng đối với tất cả các quốc gia. Để đường biên giới Việt-Trung trở nên sống động, đem lại lợi ích cho cả hai nước thì quan hệ biên giới nói chung và quan hệ quốc phòng ở khu vực biên giới nói riêng luôn cần được coi trọng. Công tác biên giới không đơn thuần là việc bảo vệ chủ quyền, bảo vệ an ninh biên giới mà còn củng cố môi trường hòa bình, ổn định, tạo điều kiện thúc đẩy các hoạt động kinh tế, văn hóa, giao lưu hữu nghị giữa nhân dân hai nước.
Để thực hiện nhiệm vụ này, trước hết, quân đội phải bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia và tham gia bảo vệ an ninh biên giới với lực lượng biên phòng là “người gác cổng”. Bên cạnh đó, phải tăng cường hợp tác để hiểu biết lẫn nhau, tạo dựng quan hệ hữu nghị, trên cơ sở đó để phát triển các lĩnh vực hợp tác khác. Giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới Việt-Trung không chỉ là hoạt động đối ngoại đơn thuần, mà còn đóng vai trò thúc đẩy hợp tác xuyên biên giới giữa hai quân đội, hai quốc gia.
Với nhận thức như vậy của hai Đảng, hai Nhà nước, Bộ Quốc phòng Việt Nam và Bộ Quốc phòng Trung Quốc đã thống nhất tổ chức Giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới giữa hai nước. Năm 2014, khi hai nước tổ chức Giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới Việt Nam-Trung Quốc lần đầu tiên ở cấp Thứ trưởng, sự kiện này đã tạo hiệu ứng tốt. Kết thúc giao lưu, hai bên đã thống nhất triển khai một loạt hoạt động hợp tác cụ thể, tiếp thêm sinh khí cho hợp tác Việt-Trung ở biên giới trên bộ. Cuộc giao lưu cũng là cơ hội để hai bên nêu rõ quan điểm của mình nhằm tăng điểm đồng, giảm điểm bất đồng.
Với kết quả tốt đẹp của cuộc giao lưu năm 2014, đến năm 2015, khi chuẩn bị tổ chức Giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới Việt-Trung, phía Trung Quốc đề nghị nâng cấp chủ trì hoạt động giao lưu trên lên cấp Bộ trưởng. Đề nghị này của Trung Quốc có ý nghĩa đặc biệt vì theo tôi biết, chưa có quốc gia nào tổ chức giao lưu biên giới lại có sự hiện diện của hai Bộ trưởng Quốc phòng. Bên cạnh đó, dù bận rất nhiều công việc nhưng hai Bộ trưởng Quốc phòng hai nước đã dành tới 4 ngày (2 ngày ở Việt Nam, 2 ngày ở Trung Quốc) để tham dự các hoạt động giao lưu. Cuộc giao lưu lần thứ 2 đã thành công tốt đẹp. Hai bên đều khẳng định, Giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới Việt Nam-Trung Quốc rất hữu ích cho việc thúc đẩy quan hệ giữa hai nước phát triển lành mạnh.
Năm 2016, với mục tiêu không thay đổi, hai bên tiếp tục tổ chức Giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới với mong muốn đẩy mạnh hợp tác thực chất. Năm nay, Giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới Việt Nam-Trung Quốc sẽ được tổ chức ở tỉnh Lạng Sơn (Việt Nam) và tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc) với nội dung, chương trình phong phú như các năm trước.
Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh trả lời phỏng vấn phóng viên Báo Quân đội nhân dân. Ảnh: TRỌNG HẢI
PV: Sau hai lần giao lưu, Thượng tướng ấn tượng nhất với hoạt động hay sáng kiến nào mà lực lượng quân đội, các địa phương khu vực biên giới đã làm được?
Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh: Qua hai lần giao lưu, có hai điều mà tôi ấn tượng. Thứ nhất là mối quan hệ giữa các lực lượng bảo vệ biên giới hai bên ngày càng trở nên khăng khít. Mối quan hệ đó không chỉ mang tính chất công vụ mà là tình cảm giữa con người với con người. Tạo dựng được mối quan hệ như vậy rất quan trọng để thực sự hiểu biết, chân thành với nhau.
Ấn tượng thứ hai là sự quan tâm của nhân dân đối với hoạt động giao lưu. Các cuộc giao lưu được người dân biên giới chăm chú theo dõi và ủng hộ nhiệt tình. Có thể thấy, việc hai bên nỗ lực hỗ trợ người dân vùng biên đã giúp nhân dân hiểu rõ hơn về lực lượng quân đội hai nước nói chung, lực lượng biên phòng hai nước nói riêng. Người dân còn hiểu thêm rằng, lực lượng quân đội, biên phòng hai nước thực sự có quan hệ tốt đẹp với nhau và với những giao lưu như thế này, chắc chắn người dân sẽ có cuộc sống bình yên, được làm ăn trong hòa bình, ổn định. Tôi nghĩ rằng, các hoạt động giao lưu đã góp phần không nhỏ vào việc xây dựng hình ảnh lực lượng bảo vệ biên giới của hai nước trong mắt nhân dân là những người giúp đỡ, bảo vệ chứ không đơn thuần là những người chỉ biết ngăn chặn, xử lý các vấn đề liên quan tới trật tự, an ninh, an toàn biên giới.
Có những sáng kiến đơn vị cơ sở đề xuất và đưa vào thực hiện rất tốt, ví dụ như tuần tra chung. Nếu như bình thường, việc tuần tra chung chỉ diễn ra giữa lực lượng bảo vệ biên giới hai bên. Tuy nhiên, một số địa phương đã sáng tạo khi đưa cấp ủy, chính quyền, thanh niên, phụ nữ, các cháu thiếu niên cùng đi tuần tra chung. Không những vậy, các địa phương hai bên biên giới còn tổ chức giao văn hóa, văn nghệ, thể thao. Những hoạt động này nhìn bề ngoài cũng bình thường, nhưng lại mang ý nghĩa lớn trong thúc đẩy, tăng cường quan hệ hợp tác, cùng nhau giữ yên vùng biên.
Bộ Quốc phòng hiện cũng đang đề nghị Chính phủ cho phép Bộ tư lệnh Bộ đội Biên phòng triển khai thực hiện dự án rà phá bom mìn tại tất cả các khu vực cửa khẩu và khu vực kinh tế ở biên giới. Việc này nhằm bảo đảm cho địa phương có “đất sạch” để phát triển và khai thác thế mạnh về kinh tế hợp tác của các địa phương Trung Quốc. Quan hệ kinh tế tốt đẹp sẽ giúp tăng cường sự hiểu biết và mở rộng hợp tác sang các lĩnh vực khác.
PV: Để hiện thực hóa phương châm tăng điểm đồng, giảm bất đồng trong quan hệ Việt-Trung, hai bên cần làm gì, thưa Thượng tướng?
Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh: Chúng ta đã đề cập đến vấn đề này nhiều, nhưng chung quy lại, cần đặc biệt chú ý một điểm: Phải tăng cường được lòng tin thực chất. Muốn vậy phải tìm được những lĩnh vực hợp tác thực chất giữa hai bên. Sự hợp tác thực chất ấy trên cơ sở tự nguyện, giữ vững nguyên tắc độc lập tự chủ và góp phần vào việc phát triển lòng tin chính trị song phương cũng như đóng góp tích cực cho hòa bình và ổn định ở khu vực. Hai bên không nên câu nệ việc nhỏ hay việc lớn mà bất kỳ lĩnh vực nào có điểm đồng phải ra sức hợp tác với nguyên tắc nói trên.
Thực tế, Việt Nam và Trung Quốc còn bất đồng về vấn đề Biển Đông. Quan điểm nhất quán của Việt Nam là kiên quyết bảo vệ chủ quyền và lợi ích chính đáng của mình bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế và các điều ước khu vực, nhưng không để xảy ra đối đầu, xung đột vũ trang. Trong bối cảnh như vậy, trước hết, quân đội tham gia vào mặt trận chung của Đảng, Nhà nước, nhân dân, bảo vệ chủ quyền bằng biện pháp hòa bình. Bên cạnh đó, chúng ta không quên rằng lòng tin chính trị là cơ sở quan trọng để từng bước giải quyết vấn đề Biển Đông. Vì vậy, chúng ta cũng có nhiệm vụ xây dựng, vun đắp lòng tin chính trị với Trung Quốc bằng thiện chí, bằng mối quan hệ quốc phòng. Trên cơ sở đó, hai bên đưa ra các cam kết vững chắc về việc không sử dụng vũ lực, mọi tranh chấp phải giải quyết bằng biện pháp hòa bình.
Như vậy, có thể nói, Giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới Việt-Trung không chỉ nhằm xây dựng đường biên giới trên bộ hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển mà còn giúp chúng ta tìm ra được kinh nghiệm hữu ích để áp dụng tại những lĩnh vực còn nhạy cảm, khi hai bên còn những khác biệt, chưa đạt được sự thống nhất. Việt Nam sẽ kiên trì tìm ra các hình thức mới để hoạt động giao lưu sinh động hơn, thiết thực hơn với các địa phương. Việt Nam cũng mong muốn Trung Quốc có quyết tâm chính trị cao để duy trì hoạt động này. Tôi tin rằng, sẽ đến thời điểm hai bên cùng thấy đây là hoạt động thường xuyên cần thiết của các ngành, các cấp, các địa phương trên toàn tuyến biên giới.
PV: Trân trọng cảm ơn Thượng tướng!
BẢO TRUNG - NGUYỄN HÒA (thực hiện)