Mỗi tấc đất biên thùy Tuyên Quang là một gia tài cha ông để lại, thì chính lòng dân nơi đây là bản khế ước thiêng liêng nhất để gìn giữ trọn vẹn gia tài ấy. Đó là hồn thiêng của non sông, là nhịp đập của mỗi người dân miền biên viễn. Chính từ những nhịp đập thổn thức, đồng điệu ấy, một “vành đai lòng dân” đã được kết thành, ôm trọn lấy giang sơn. Ở đó, mỗi người dân là một cột mốc sống, là bức tường thành vững chắc bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng nơi địa đầu Tổ quốc.

Khi lòng dân hóa “cột mốc” biên cương

Vị thế của Tuyên Quang trên bản đồ Tổ quốc không chỉ được định hình bởi địa lý, mà bởi một sứ mệnh lịch sử. Dải đất biên cương trải dài hơn 277km này, với 17 xã và 122 thôn bản giáp biên, chính là một "tấm lá chắn thép" nơi địa đầu. Đây là địa phương duy nhất trên cả nước có đường biên tiếp giáp đồng thời với cả hai tỉnh Vân Nam và Quảng Tây của Trung Quốc. Vị trí "hai vai gánh hai trọng trách" này biến Tuyên Quang thành một "yết hầu", một điểm chốt trọng yếu trong thế trận phòng thủ quốc gia.

Trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, khi Tuyên Quang là trái tim của “Thủ đô khu giải phóng”,  "Thủ đô Kháng chiến", 17 xã biên giới chính là "vành đai thép" bảo vệ từ xa. Người dân nơi đây là tuyến cảnh giới sống, là những người dẫn đường thông thạo và là bức tường thành của lòng trung thành, bảo vệ tuyệt đối an toàn cho đầu não cách mạng. Đồng bào các dân tộc Mông, Tày, Dao, Nùng... hăng hái gia nhập lực lượng du kích. Tính riêng năm 1953, các xã biên giới Tuyên Quang đã huy động được trên 12.000 dân quân; lực lượng này gánh vác 2 nhiệm vụ chiến lược: Hơn 2.000 người bám trụ, phục vụ tại địa phương, giữ vững hậu phương và cơ sở. Gần 10.000 người đã theo điều động của Liên khu tỏa đi các mặt trận. Họ chính là những người trực tiếp sửa chữa cầu đường, đảm bảo huyết mạch giao thông, và góp công sức xây dựng các công xưởng của Cục Quân khí. Chỉ tính riêng trong 6 tháng đầu năm 1951, người dân ở tỉnh Hà Giang trước đây, trong đó có sự tham gia tích cực người dân các xã vùng biên quyên góp được 208 tấn thóc, 1 triệu đồng.

Song song đó, Tuyên Quang đảm nhận vai trò là một “huyết mạch chi viện” không thể thay thế. Làm rõ hơn về vai trò này, đồng chí Kim Xuyến Lượng, nguyên Chủ tịch Ủy ban hành chính tỉnh Hà Giang trước đây (năm nay 99 tuổi, 78 năm tuổi Đảng) chia sẻ: “Một số nguồn viện trợ quốc tế từ phía Bắc phải qua đây mới vào căn cứ địa Việt Bắc, trước khi tỏa đi khắp các chiến trường, đặc biệt là trong chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử. Dân công gánh gạo. Chị em phụ nữ ở các xã biên giới đã quyên góp 194.060 đồng ủng hộ thương binh. Có chị dân công xã Tân Quang đã vác trên vai 60kg hàng. Đoàn ngựa thồ Lũng Cú vượt quãng đường dài hơn 150 km để mang hàng hóa tiếp tế…”. Dòng chảy người và của không ngừng nghỉ ấy đã biến Tuyên Quang thành một trạm trung chuyển, một hậu phương chiến lược của cả dân tộc.

Gia đình - thành lũy lòng dân đánh bại thổ phỉ

Sau năm 1954, hòa bình lập lại ở miền Bắc chưa được bao lâu, thì các tỉnh biên giới phía Bắc, trong đó các xã biên giới ở Tuyên Quang lại phải đối mặt với nạn thổ phỉ hoành hành. Được các thế lực bên ngoài giật dây, chúng nổi lên chống phá chính quyền, cướp bóc, gieo rắc tang thương khắp nơi. Trước tình hình đó, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định, đây là một cuộc đấu tranh mà thắng lợi phải bắt nguồn từ nhân dân.

Nghĩa trang Liệt sĩ quốc gia Vị Xuyên hôm nay như một hoa viên ký ức, lặng thầm khắc ghi sự hy sinh cao cả của những người con ưu tú đã ngã xuống để bảo vệ từng tấc đất biên cương.

Hàng trăm gia đình nơi đây đã trở thành bức tường thành vững chắc chở che, tiếp tế, bảo vệ bộ đội ta, đồng thời vận động con em mình rời bỏ phỉ, về với bản làng. Bà Hoàng Thị Mẩy, xã Đồng Văn, vẫn nhớ như in: "Phỉ về bản là cướp gà, cướp lợn, ai cũng sợ. Khi bộ đội về, dạy chúng tôi học chữ, giúp làm nương. Chồng tôi nghe lời phỉ dụ dỗ trốn vào rừng, tôi nghe lời cán bộ, cứ vào rừng tìm chồng, khóc mà nói Đảng và Bác Hồ khoan hồng lắm, về đi, đừng theo ma rừng nữa. Mấy lần như vậy, chồng cũng nghe ra mà vác súng về với bản làng”.

Từ những lời kêu gọi từ người thân, kết hợp với chính sách khoan hồng của Đảng, đã làm tan rã phần lớn các tổ chức phỉ từ bên trong, khiến nhiều thủ lĩnh ngoan cố bị cô lập hoàn toàn trước khi lực lượng vũ trang ra đòn quyết định. Cuộc đấu tranh tiễu phỉ ở miền Bắc sau năm 1954 vì thế không chỉ là thắng lợi của nghệ thuật quân sự nhân dân, mà còn là minh chứng sáng ngời cho sức mạnh “thế trận lòng dân” - nơi mỗi gia đình là một thành lũy, mỗi người dân là một chiến sĩ, và niềm tin vào Đảng trở thành ngọn đèn soi đường xua tan mọi bóng tối..

Bản trường ca giữ đất nơi "lò vôi thế kỷ"

Giai đoạn 1979-1989 là chương bi tráng nhất trong bản trường ca giữ đất của người dân biên thùy. Đồng chí Nguyễn Vũ Dương, nguyên Phó đồn trưởng Đồn Biên phòng Lũng Làn, kể lại rằng: “Thời điểm đó đời sống của chúng tôi rất thiếu thốn. Nhưng mỗi lần giặc pháo kích, bà con dân bản lại gùi từng bao gạo, bắp ngô, vượt qua làn súng đạn để lên trận địa tiếp tế cho bộ đội”.  

Bà Tạ Thị Nhung, một nhân chứng sống ở xã Thanh Thủy, run run chỉ về phía những dãy núi đá, ký ức vẫn như ngày hôm qua: “Ngày ấy, tiếng đạn pháo suốt ngày đêm. Đàn ông thì đi dân quân, còn chúng tôi thì gùi cơm, tiếp tế lương thực”. Công việc tiếp tế ấy là một cuộc chiến sinh tử.

Và cũng chính trong lửa đạn khốc liệt của Vị Xuyên, giữa sự sống và cái chết, tình yêu vẫn nảy mầm. Cô gái Tạ Thị Nhung dũng cảm ngày ấy đã nên duyên với anh lính trẻ Lưu Thanh Trì (quê Nghệ An, thuộc Sư đoàn 356). Tình yêu nảy nở từ khói lửa đã níu chân người lính, và ông Trì đã chọn ở lại mảnh đất Tuyên Quang này cùng vợ, gắn bó cuộc đời mình với mảnh đất biên cương bi tráng.

PGS, TS. Đinh Quang Hải, nguyên Viện trưởng Viện Sử học, nguyên Tổng biên tập Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử đã phân tích: “Sức mạnh của chúng ta trong cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc nằm ở lòng dân, ở toàn thể cộng đồng các dân tộc. Mỗi thôn bản là một tổ kháng cự, mỗi người dân là một chiến sĩ”.

Hơn 4.000 liệt sĩ đã ngã xuống trong cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc. Sự hy sinh của các anh là vô giá, nhưng chiến thắng hào hùng ấy cũng được dệt nên từ vô vàn những đóng góp thầm lặng của những người dân bình dị. Tại Nghĩa trang Liệt sĩ quốc gia Vị Xuyên, ban thờ riêng dành cho nhân dân tử nạn, đặt trang trọng bên cạnh ban thờ các anh hùng, chính là lời tri ân sâu sắc nhất. Đồng thời khẳng định, trên mảnh đất địa đầu, mỗi người dân là một chiến sĩ.

-------------------

Kỳ 2: Vun đắp tình quân dân, xây dựng “thành lũy mới”

* Mời bạn đọc vào chuyên mục Cuộc thi viết Vững bước dưới cờ Đảng xem các tin, bài liên quan.