Trong đó, đáng chú ý là sự lan tỏa bao trùm các yêu cầu và quy luật kinh tế thị trường trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, sự cạnh tranh địa chính trị và đa cực hóa, sự gia tăng nhanh chóng lực lượng sản xuất mới gắn với bùng nổ cách mạng công nghiệp 4.0 và xu hướng tăng trưởng xanh hóa và phát triển bền vững.
Điểm nhấn bối cảnh thế giới hiện nay
Thế giới đương đại đang chứng kiến những biến chuyển nhanh chóng, phức tạp và khó lường của tình hình địa chính trị, kinh tế, môi trường khu vực và toàn cầu, trước mắt và lâu dài; đồng thời tác động, lan tỏa mạnh mẽ đến tất cả các nước, dù thuộc chế độ chính trị xã hội nào và có trình độ phát triển cao hay thấp ra sao, trong đó có Việt Nam, với một số động thái nổi bật sau:
Thứ nhất, gia tăng cạnh tranh địa chính trị và tái cấu trúc trật tự kinh tế thế giới và quan hệ quốc tế mới theo hướng đa cực, đa trung tâm. Nổi bật trong số đó là xu hướng gia tăng cạnh tranh chiến lược giữa các nước và nhóm nước Mỹ, EU-Nga-Trung Quốc, Ấn Độ, cùng với giãn cách ngày càng lớn giữa quy mô kinh tế Mỹ, Trung Quốc với các nước còn lại; kéo theo dự gia tăng chi phí gắn với chạy đua quân sự và chạy đua công nghệ cao
Thứ hai, lực lượng sản xuất mới với những cấu thành mới và đặc tính mới đang đặt ra những nhận thức và yêu cầu mới về xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ của mỗi quốc gia.
Một trong những đặc trưng thời đại hiện nay là sự xuất hiện các cấu trúc lực lượng sản xuất mới, bao gồm cả các yếu tố đầu vào (như vật liệu mới, năng lượng mới, robot hình người và công nghệ tự động mới, AI và dữ liệu…), không gian kinh tế (nền kinh tế số và không gian kinh tế số), đồng tiền số/ảo và thị trường mới (mua bán các yếu tố và thành phẩm kinh tế số).
Thứ ba, sức mạnh quốc gia ngày càng dựa trên cộng hưởng sức mạnh nội lực kinh tế, quốc phòng và khả năng phản ứng chính sách, phản ứng thị trường thông minh và hiệu quả.
 |
| Cơ sở hạ tầng giao thông của nước ta không ngừng được đầu tư hiện đại hóa, đồng bộ. |
Điểm nhấn bối cảnh trong nước
Nhìn lại hành trình 50 năm qua kể từ Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30-4-1975 / 30-4-2025), mỗi người dân trong cộng đồng hơn 100 triệu người dân Việt Nam không khỏi tự hào với những thành tựu mà đất nước đã có được sau bao nỗ lực vượt mọi thử thách, từng bước đổi mới phát triển và hội nhập quốc tế ngày càng toàn diện và sâu sắc hơn.
Trong đó, nổi bật là thể chế kinh tế và vị thế quốc tế không ngừng cải thiện. Việt Nam thực thi nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ, chủ động, tích cực hội nhập, mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, hợp tác bình đẳng, cùng có lợi với tất cả các nước trên cơ sở những nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế.
Chất lượng sống và đời sống văn hóa của người dân không ngừng được nâng cao; coi trọng phát triển hài hòa văn hóa với chính trị, kinh tế, xã hội trong yêu cầu phát triển bền vững đất nước.
 |
| Những thành tựu nổi bật của đất nước được giới thiệu tại Triển lãm thành tựu đất nước “80 năm Hành trình Độc lập-Tự do-Hạnh phúc”. Ảnh: TUẤN HUY |
Hội nghị Trung ương 9 khóa XI, Đảng ta nhấn mạnh: Văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội. Đại hội XII xác định văn hóa là “chìa khóa” mở ra cơ hội cạnh tranh công bằng, lành mạnh, thúc đẩy sự phát triển bền vững đất nước.
Vì vậy, cần gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao đời sống của nhân dân. Đại hội XIII (năm 2021) lần đầu tiên đưa ra yêu cầu phát huy “sức mạnh mềm” của văn hóa, gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao đời sống nhân dân. Xây dựng, phát huy yếu tố văn hóa để thực sự là đột phá phát triển kinh tế - xã hội, hội nhập quốc tế.
Việt Nam tự tin và đặt yêu cầu cao bước vào Kỷ nguyên mới. Trên nền tảng vững chắc 50 năm qua, Việt Nam luôn theo dõi sát tình hình thế giới, phản ứng chính sách phù hợp, ưu tiên cho tăng trưởng, đẩy mạnh sản xuất kinh doanh, tăng cường năng lực, sự ổn định và lành mạnh của hệ thống ngân hàng, thị trường vốn; tiếp tục cải cách để tăng năng suất, duy trì tăng trưởng lâu dài, bền vững và kiểm soát tốt các rủi ro; tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư.
Một số vấn đề đặt ra và giải pháp cần có
Bên cạnh những thành tựu đó, Việt Nam cũng đối diện không ít thách thức và khó khăn cả về kinh tế và văn hóa, xã hội thời hậu Covid-19… Đặc biệt, đang nổi lên 3 vấn đề lớn.
Thứ nhất, giải quyết bài toán xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng, thực chất, hiệu quả. Đây là chủ trương lớn và nhất quán của Đảng, Nhà nước, là đòi hỏi khách quan, sự vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, động lực cho đất nước ta vươn mình, ngày càng củng cố cơ đồ, tiềm lực kinh tế, sự độc lập, tự chủ của quốc gia, vị thế và uy tín quốc tế, hướng tới khát vọng hùng cường, trở thành nước phát triển có thu nhập cao vào năm 2045.
Thứ hai, tham nhũng và suy thoái đạo đức xã hội gia tăng, cùng với tác động mặt trái của kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Đặc biệt, cùng với sự phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế đang diễn ra các biểu hiện ngày càng nghiêm trọng về suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và văn hóa, thể hiện ở lối sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi, chỉ lo thâu vén cá nhân, gây mất đoàn kết nội bộ, độc đoán, gia trưởng, thiếu dân chủ trong chỉ đạo điều hành; kê khai tài sản không trung thực, mắc bệnh thành tích, háo danh, thờ ơ, vô cảm với những vấn đề bức xúc của nhân dân, sử dụng lãng phí tài sản công và ngân sách nhà nước, sử dụng lãng phí nguồn nhân lực, phí phạm thời gian lao động.
Thứ ba, tồn tại khoảng cách phát triển hài hòa văn hóa, xã hội với kinh tế.
Thực tế đang đặt ra nhiều vấn đề trong phát triển hài hòa văn hóa, xã hội với kinh tế; thể hiện ở sự mâu thuẫn và hạn chế giữa yêu cầu đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, đô thị hóa và áp dụng cơ chế thị trường ngày càng đầy đủ và tuân thủ các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế vào các hoạt động phát triển và quản lý đời sống kinh tế xã hội.
Phân hóa xã hội gia tăng, khoảng cách tiếp cận văn hóa giữa các vùng, nhóm dân cư ngày càng lớn; biến đổi giá trị, lối sống do tác động của công nghệ, truyền thông số, văn hóa ngoại lai; suy giảm đạo đức xã hội, lối sống thực dụng, thiếu trách nhiệm cộng đồng ở một bộ phận thanh niên; yêu cầu xây dựng xã hội học tập, xã hội nhân văn, có bản sắc, có khả năng đề kháng văn hóa độc hại; ngoài ra, đó còn là những thách thức nổi lên từ áp lực dân số già, tăng tốc đô thị hóa, di cư, mất cân bằng vùng miền, “vô danh hóa” văn hóa cộng đồng…
Thực tế đòi hỏi: Phát triển kinh tế cần đi đôi với bảo đảm an sinh xã hội, chăm sóc sức khỏe và giáo dục cho người dân. Cần xây dựng hệ thống thể chế, pháp luật minh bạch, công bằng và hiệu quả để hỗ trợ sự phát triển kinh tế bền vững, tránh tham nhũng và lợi ích nhóm. Sự phát triển kinh tế cần được bảo vệ bởi một môi trường chính trị ổn định, tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư và tăng trưởng. Bảo đảm việc phân bổ nguồn lực kinh tế một cách hợp lý, công bằng, hỗ trợ phát triển chung thay vì chỉ cho một số nhóm nhất định.
Phát triển kinh tế không nên làm suy thoái các giá trị văn hóa truyền thống, mà cần tìm cách kết hợp để tạo ra bản sắc độc đáo. Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế có thể mang lại các giá trị văn hóa mới, đôi khi xung đột với văn hóa bản địa, tạo ra những thách thức về bản sắc; do đó, cần thận trọng với việc chạy theo lợi ích kinh tế có thể dẫn đến việc hy sinh các di sản văn hóa hoặc các hình thức biểu hiện văn hóa truyền thống. Cần đảm bảo người dân có tiếng nói trong các quyết định chính trị và kinh tế, từ đó thúc đẩy sự phát triển hài hòa, không bỏ lại phía sau bất kỳ nhóm xã hội nào. Phát triển kinh tế và xã hội cần đi đôi với bảo vệ môi trường, vì môi trường là yếu tố nền tảng cho sự phát triển bền vững của cả ba lĩnh vực.
Để giải quyết hài hòa các mối quan hệ này, đáp ứng yêu cầu tập hợp lực lượng, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc cho xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới, cần tập trung vào những giải pháp sau:
Về tổng thể, Việt Nam cần kiên định đường lối vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng, thực chất, hiệu quả, phù hợp với xu hướng thế giới và thực tiễn lịch sử; bảo đảm đất nước có các nguồn nội lực hùng hậu, năng lực đổi mới sáng tạo và năng lực cạnh tranh cao, cơ cấu kinh tế hợp lý, thích ứng nhanh và hiệu quả với những biến động của tình hình quốc tế và hướng tới yêu cầu phát triển bền vững.
Việt Nam cần tiếp tục đổi mới nhận thức, hoàn thiện nội dung yêu cầu mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN; nâng cao chất lượng, hiệu quả quản trị quốc gia và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp; tạo môi trường thuận lợi thúc đẩy khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo và hoạt động của những lĩnh vực, mô hình kinh doanh mới; phát huy vai trò của các tổ chức xã hội-nghề nghiệp trong tham gia hình thành và điều tiết các quan hệ kinh tế thị trường; phát triển doanh nghiệp Việt Nam lớn mạnh, nòng cốt của kinh tế đất nước; giữ vững các cân đối lớn, bảo đảm an ninh kinh tế; đẩy mạnh đa phương hóa và đa dạng hóa các quan hệ kinh tế, tránh lệ thuộc vào một thị trường, một đối tác.
Nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế trước các tác động tiêu cực từ các biến động kinh tế thế giới; chủ động hoàn thiện hệ thống phòng vệ để bảo vệ doanh nghiệp và thị trường trong nước. Hoàn thiện hệ thống pháp luật phù hợp với những điều ước và cam kết quốc tế mà Việt Nam đã ký kết; tăng cường đào tạo cán bộ… có khả năng làm việc trong môi trường quốc tế…
Đồng thời, đẩy mạnh nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn; tiếp tục nâng cao nhận thức của các cấp ủy đảng, chính quyền và tiếp tục thể chế hóa các quan điểm, đường lối của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết Đại hội và các hội nghị Trung ương khóa XIII về phát triển kinh tế, văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội thành các chính sách, pháp luật của Nhà nước trong điều kiện mới.
Việt Nam cần mở rộng giao lưu, hợp tác với các nước trong khu vực và thế giới, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại phù hợp với thực tiễn đất nước, chủ động nâng cao “sức đề kháng” của các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thanh, thiếu niên trước văn hóa phẩm ngoại lai độc hại, đưa văn hóa Việt Nam hội nhập sâu rộng với thế giới.
Bên cạnh đó, cần củng cố niềm tin chính trị, nỗ lực đột phá thể chế, tinh gọn và nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả bộ máy quản lý nhà nước và toàn hệ thống chính trị để tạo động lực mới cho phát triển kinh tế đất nước.
Đặc biệt, cần sớm xây dựng và hoàn thiện hệ giá trị quốc gia, trong đó ưu tiên xây dựng hệ giá trị văn hóa Việt Nam thời kỳ mới và tích hợp trong các chương trình phát triển quốc gia; coi văn hóa là nội dung cốt lõi trong mọi chiến lược phát triển ngành, vùng, địa phương; tiếp tục hoàn thiện đồng bộ thể chế, chính sách để phát triển văn hóa gắn kết hữu cơ với chính trị - kinh tế - xã hội trên nguyên tắc: Đặt con người - văn hóa ở trung tâm, phát triển dựa vào đổi mới sáng tạo, hội nhập và bền vững; đồng thời, sớm hoàn thiện cơ chế kết hợp hài hòa Nhà nước-Thị trường-Xã hội trong một mô hình Nhà nước kiểu mới; theo đó:
Trong thời gian tới, cần đẩy nhanh quá trình hoàn thiện thể chế, nhất là về hệ thống pháp luật phù hợp với những điều ước quốc tế và cam kết quốc tế mà Việt Nam đã ký kết; coi trọng duy trì sự ổn định và phát triển trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, môi trường, hội nhập quốc tế; Thúc đẩy sự chuyển biến mạnh mẽ hơn về cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới động lực tăng trưởng, nâng cao năng suất lao động, tăng tính cạnh tranh chất lượng của nền kinh tế.
Đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ kinh tế quốc tế, tránh lệ thuộc vào một thị trường, một đối tác, nhất là khi thị trường hay đối tác đó có sự biến động; thực hiện nhiều hình thức hội nhập kinh tế quốc tế với các lộ trình linh hoạt, phù hợp với điều kiện, mục tiêu của đất nước từng giai đoạn; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và tăng cường đổi mới sáng tạo, phát triển và từng bước làm chủ khoa học công nghệ đáp ứng yêu cầu cạnh tranh quốc tế.
Đây cũng là quá trình tạo lập và hiện thực hóa các mục tiêu, động lực và cơ chế để gắn kết chặt chẽ phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, xã hội, bảo vệ môi trường, phát huy dân chủ, sáng tạo và bảo vệ quyền con người, quyền công dân, để người dân được hưởng thụ ngày càng nhiều hơn thành quả của công cuộc đổi mới, giữ vững được ổn định chính trị và kinh tế, củng cố đồng thuận và đoàn kết xã hội, không ngừng cải thiện các quan hệ và vị thế quốc tế, xây dựng và phát triển đất nước Việt Nam phát triển nhanh, bền vững hơn trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng và toàn diện hơn.
* Mời bạn đọc vào chuyên mục Cuộc thi viết Vững bước dưới cờ Đảng xem các tin, bài liên quan.