Mối quan hệ hữu cơ, cùng phát triển
Chúng ta khẳng định giữa KTNN và KTTN trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Việt Nam không tồn tại sự đối lập hay loại trừ lẫn nhau, mà là mối quan hệ mang tính hữu cơ, thể hiện ở sự hỗ trợ, tương tác, cùng phát triển. Nhận thức đúng mối quan hệ này có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, bởi nó khắc phục cách hiểu phiến diện, đồng thời định hướng quá trình hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách phát triển kinh tế trong giai đoạn hiện nay.
 |
| Ảnh minh họa: baochinhphu.vn |
Trước hết, cần nhìn nhận mối quan hệ giữa hai khu vực này trên phương diện bổ sung chức năng. Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, Nhà nước không đứng ngoài thị trường, cũng không thay thế thị trường, mà giữ vai trò định hướng và tạo lập khung khổ thể chế cho thị trường vận hành. Thông qua KTNN, Nhà nước có công cụ vật chất để thực hiện vai trò đó, từ việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách đến việc đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, cung cấp dịch vụ công và điều tiết các cân đối lớn của nền kinh tế. Như vậy, KTNN trước hết đảm nhiệm chức năng tạo “khung”, tức là thiết lập môi trường, điều kiện và trật tự cho toàn bộ nền kinh tế vận hành một cách ổn định, minh bạch và đúng định hướng.
Trong khi đó, KTTN lại đảm nhiệm chức năng khai thác các cơ hội phát triển trong khuôn khổ thể chế đó, trực tiếp tổ chức sản xuất, kinh doanh, tạo ra của cải vật chất và giá trị gia tăng cho xã hội. Với đặc trưng linh hoạt, năng động và nhạy bén với thị trường, khu vực tư nhân có khả năng nhanh chóng nắm bắt nhu cầu, đổi mới sản phẩm, mở rộng thị trường và tối ưu hóa nguồn lực. Nếu KTNN tạo ra “luật chơi” và “sân chơi” thì KTTN chính là lực lượng tham gia “cuộc chơi”, biến các tiềm năng thành hiện thực, biến các cơ hội thành kết quả cụ thể. Chính sự phân công chức năng này tạo nên sự bổ sung lẫn nhau giữa hai khu vực, làm cho nền kinh tế vừa có trật tự, vừa có sức sống.
Không chỉ dừng lại ở sự bổ sung chức năng, mối quan hệ giữa KTNN và KTTN còn thể hiện rõ ở sự tương tác trong quá trình phát triển. KTNN, với vai trò chủ đạo, tạo ra “sân chơi” ổn định thông qua việc duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm cân đối lớn và xây dựng kết cấu hạ tầng. Những yếu tố này là điều kiện tiên quyết để các chủ thể kinh tế, đặc biệt là khu vực tư nhân yên tâm đầu tư, mở rộng sản xuất, kinh doanh và phát triển lâu dài. Nếu không có sự ổn định này, các doanh nghiệp tư nhân sẽ phải đối mặt với rủi ro cao, chi phí lớn và khó phát triển bền vững.
Ngược lại, chính sự phát triển năng động và hiệu quả của KTTN lại góp phần làm cho “sân chơi” đó trở nên sôi động, hiệu quả và có giá trị thực tiễn. Thông qua các hoạt động sản xuất, kinh doanh, khu vực KTTN không chỉ tạo ra của cải vật chất mà còn đóng góp vào ngân sách nhà nước, tạo việc làm, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng suất lao động. Những đóng góp này trở thành nguồn lực để Nhà nước tiếp tục đầu tư phát triển hạ tầng, hoàn thiện thể chế và nâng cao năng lực điều tiết. Như vậy, giữa hai khu vực tồn tại một vòng tròn tương tác tích cực: KTNN tạo điều kiện, thúc đẩy KTTN phát triển; sự phát triển của KTTN lại củng cố thêm điều kiện và nguồn lực cho KTNN thực hiện tốt hơn vai trò của mình.
Mối quan hệ này còn thể hiện ở sự phối hợp trong nhiều lĩnh vực cụ thể của nền kinh tế. Trong phát triển kết cấu hạ tầng, KTNN thường đóng vai trò chủ lực trong việc đầu tư các dự án quy mô lớn, có tính chất nền tảng, trong khi KTTN tham gia dưới nhiều hình thức như đối tác công-tư, cung cấp dịch vụ, khai thác và vận hành. Trong lĩnh vực đổi mới sáng tạo, Nhà nước tạo ra môi trường chính sách, hỗ trợ nghiên cứu và phát triển, còn khu vực tư nhân trực tiếp triển khai, ứng dụng và thương mại hóa các kết quả đó. Sự phối hợp này làm tăng hiệu quả sử dụng nguồn lực và thúc đẩy quá trình phát triển nhanh hơn.
Một khía cạnh quan trọng khác là tính không thay thế lẫn nhau. KTNN và KTTN không thay thế vai trò của nhau, bởi mỗi khu vực đảm nhiệm những chức năng đặc thù mà khu vực kia không thể thực hiện đầy đủ. Nếu thiếu KTNN, nền kinh tế sẽ thiếu công cụ định hướng và điều tiết vĩ mô, dễ rơi vào tình trạng phát triển tự phát, mất cân đối và có nguy cơ chệch hướng XHCN. Trong điều kiện hội nhập quốc tế sâu rộng, sự thiếu vắng vai trò chủ đạo của KTNN còn có thể dẫn đến nguy cơ phụ thuộc vào các lực lượng bên ngoài, ảnh hưởng đến an ninh kinh tế và chủ quyền quốc gia.
Ngược lại, nếu thiếu KTTN, nền kinh tế sẽ thiếu đi động lực tăng trưởng chủ yếu, thiếu sự năng động và sáng tạo cần thiết để thích ứng với cơ chế thị trường. KTNN, do đặc thù về mục tiêu và cơ chế hoạt động, khó có thể bao quát và đáp ứng toàn bộ nhu cầu đa dạng của thị trường. Nếu không có khu vực tư nhân, nền kinh tế sẽ kém linh hoạt, hiệu quả thấp và khó đạt được tốc độ tăng trưởng cao. Điều này đã được thực tiễn nhiều quốc gia chứng minh, khi việc xem nhẹ hoặc hạn chế khu vực tư nhân thường dẫn đến trì trệ và kém phát triển.
Do đó, mối quan hệ giữa KTNN và KTTN phải được đặt trong tổng thể của nền kinh tế nhiều thành phần, trong đó mỗi khu vực phát huy lợi thế của mình và phối hợp với các khu vực khác để đạt mục tiêu chung. Sự hỗ trợ, tương tác và cùng phát triển giữa hai khu vực này không chỉ là yêu cầu khách quan mà còn là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam.
Mưu đồ "quy đồng bản chất", chống phá đường lối của Đảng
Như thuộc tính cố hữu, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách chống phá, quy kết, đưa ra những luận điệu, cách tiếp cận sai lầm với mưu đồ làm lệch lạc nhận thức của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân. Điều này rất nguy hiểm, bởi nó có thể dẫn tới những hệ quả tiêu cực trong việc hoạch định chính sách và tổ chức thực tiễn phát triển kinh tế. 3 sai lầm điển hình mà các thế lực thường áp đặt là:
Thứ nhất, luận điệu đồng nhất khái niệm “chủ đạo” với “bao trùm, áp đảo” về quy mô.
Đây là sự giản đơn hóa nội hàm của khái niệm mang tính lý luận sâu sắc. Trong tư duy kinh tế chính trị, đặc biệt là trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, “vai trò chủ đạo” của KTNN không được hiểu theo nghĩa chiếm tỷ trọng tuyệt đối hay hiện diện ở mọi lĩnh vực, mà được hiểu theo nghĩa giữ vai trò định hướng, dẫn dắt và chi phối những điểm nút chiến lược của nền kinh tế. Điều đó có nghĩa là KTNN phải nắm giữ các lĩnh vực then chốt, thiết yếu, có khả năng ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống, từ đó tạo điều kiện để Nhà nước thực hiện chức năng điều tiết vĩ mô và bảo đảm định hướng phát triển.
Việc đồng nhất “chủ đạo” với “áp đảo” dẫn đến hai hệ quả nhận thức sai lệch. Một mặt, nó khiến người ta hiểu rằng KTNN phải chiếm tỷ trọng lớn trong mọi lĩnh vực, từ đó có thể biện minh cho sự dàn trải, kém hiệu quả, thậm chí là bao cấp trá hình. Mặt khác, nó tạo ra cách hiểu đối lập với KTTN khi cho rằng, nếu KTNN đã “chủ đạo” thì các khu vực khác phải bị thu hẹp hoặc lép vế. Cả hai cách hiểu này đều không đúng với đường lối đổi mới của Đảng, đặc biệt là tinh thần của Nghị quyết 79, trong đó nhấn mạnh việc phát triển KTNN theo hướng tinh gọn, hiệu quả, tập trung vào những lĩnh vực then chốt, chứ không phải mở rộng tràn lan.
Hai là, đặt KTNN và KTTN vào thế đối lập, như hai lực lượng loại trừ lẫn nhau.
Đây là biểu hiện của tư duy siêu hình, không thấy được mối quan hệ biện chứng giữa các thành phần kinh tế trong một chỉnh thể thống nhất. Thực chất, trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, các thành phần kinh tế không tồn tại một cách biệt lập mà có sự gắn bó, tương tác và bổ sung cho nhau. KTNN và KTTN, với những chức năng khác nhau, cùng tham gia vào quá trình phát triển chung của nền kinh tế.
Quan điểm của Đảng ta khẳng định, các thành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng trước pháp luật. Tinh thần này được thể hiện nhất quán trong Nghị quyết 68 khi xác định KTTN là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế, đồng thời yêu cầu tạo mọi điều kiện thuận lợi để khu vực này phát triển. Như vậy, không có sự phủ định hay loại trừ giữa hai khu vực, mà ngược lại, sự phát triển của khu vực này là điều kiện để khu vực kia phát huy vai trò của mình.
Việc đặt hai khu vực vào thế đối lập không chỉ sai về lý luận mà còn nguy hiểm về thực tiễn. Nó có thể dẫn đến những chính sách thiên lệch, hoặc là ưu ái quá mức cho KTNN mà kìm hãm khu vực tư nhân, hoặc là đề cao tuyệt đối KTTN mà xem nhẹ vai trò điều tiết của Nhà nước. Cả hai khuynh hướng này đều có thể làm mất cân đối nền kinh tế, ảnh hưởng đến hiệu quả và tính bền vững của quá trình phát triển và không đạt được mục tiêu chung.
Ba là, các đối tượng cố tình phủ nhận tính hệ thống của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Kinh tế thị trường định hướng XHCN là một mô hình kinh tế đặc thù, trong đó tồn tại nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế cùng phát triển, mỗi thành phần giữ một vai trò nhất định trong tổng thể nền kinh tế. Việc chỉ nhìn vào một yếu tố riêng lẻ, tách rời khỏi tổng thể, sẽ dẫn đến nhận thức sai lệch về bản chất của mô hình này.
Trong hệ thống kinh tế đa thành phần, không thể dùng một tiêu chí duy nhất để đánh giá vai trò của các thành phần kinh tế. Tất cả các thành phần cùng tồn tại, tương tác và bổ sung cho nhau, tạo nên một hệ thống hoàn chỉnh. Nếu tách rời một thành phần kinh tế và đặt nó đối lập với các thành phần kinh tế khác sẽ làm mất đi cái nhìn khách quan, toàn diện, cụ thể và tính biện chứng.
Việc không nhận thức được tính hệ thống còn dẫn đến xu hướng tuyệt đối hóa một thành phần kinh tế, coi đó là giải pháp duy nhất cho phát triển. Trong khi đó, thực tiễn đã chứng minh rằng, không một thành phần kinh tế nào có thể tự mình đảm nhiệm tất cả chức năng của nền kinh tế. Chỉ khi các thành phần kinh tế được phát triển hài hòa, trong một thể chế phù hợp, thì nền kinh tế mới có thể vận hành hiệu quả và bền vững.
Như vậy, có thể thấy rõ, từ cách tiếp cận phiến diện, thiếu tính biện chứng và không gắn với thực tiễn phát triển của nền kinh tế Việt Nam, các thế lực thù địch cố tình đồng nhất “chủ đạo” với “áp đảo”, đặt các khu vực kinh tế của Việt Nam vào thế đối lập và không nhận thức được tính hệ thống của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; từ đó kết luận sai lầm rằng việc khẳng định vai trò chủ đạo của KTNN là phủ nhận vai trò động lực quan trọng nhất của KTTN.
Xác định KTNN giữ vai trò chủ đạo và KTTN là động lực quan trọng nhất không mâu thuẫn, không phủ nhận lẫn nhau mà cùng tồn tại, vận hành trong một chỉnh thể thống nhất của nền kinh tế. Nghị quyết 68 về phát triển KTTN và Nghị quyết 79 về phát triển KTNN của Bộ Chính trị khóa XIII đã thể hiện đúng đắn sự phát triển tư duy lý luận của Đảng trong kỷ nguyên phát triển mới của đất nước.