1. Chín tháng năm 2026 đã đi qua trong bối cảnh tình hình thế giới tiếp tục diễn biến nhanh chóng, phức tạp và khó lường. Xung đột quân sự kéo dài ở Nga - Ukraine và Trung Đông, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, chủ nghĩa bảo hộ gia tăng, nhất là chính sách thuế quan mới của Mỹ, những điều chỉnh chính sách thương mại, tiền tệ cùng biến động giá năng lượng, nguyên liệu và chi phí vận tải đã tạo ra sức ép lớn đối với kinh tế toàn cầu. Biến đổi khí hậu, thiên tai cực đoan và những thách thức an ninh phi truyền thống tiếp tục tác động sâu sắc đến đời sống nhân loại.

Là nền kinh tế có độ mở cao, Việt Nam không thể đứng ngoài những tác động ấy. Những biến động của thị trường quốc tế ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất, xuất nhập khẩu, thu hút đầu tư, việc làm và thu nhập của người dân.

Trong nước, Việt Nam vẫn phải đối mặt với không ít khó khăn: Chất lượng tăng trưởng chưa đồng đều; năng suất lao động và năng lực tự chủ của nền kinh tế còn nhiều hạn chế; sự phụ thuộc vào khu vực đầu tư nước ngoài còn lớn; những bất cập về thể chế, thủ tục hành chính, hạ tầng, môi trường, sự chưa đồng bộ của bộ máy hành chính sau sắp xếp và chất lượng nguồn nhân lực chưa được khắc phục triệt để.

Nhìn thẳng vào những hạn chế đó là cần thiết. Nhưng điều quan trọng là phải đánh giá đất nước một cách toàn diện, công bằng, trên cơ sở sự thật và những kết quả có thể kiểm chứng. Không thể lấy những khuyết điểm để phủ nhận toàn bộ thành tựu; càng không thể vì một số hiện tượng tiêu cực mà quy kết sai lầm cho cả con đường phát triển của dân tộc.

Ảnh minh họa: qdnd.vn 

 

Theo báo cáo của Cục Thống kê, GDP Việt Nam trong 9 tháng năm 2026 ước tăng 9,01% so với cùng kỳ năm trước; riêng quý III tăng 9,95%, cao hơn mức tăng 8,15% của quý I và 8,81% của quý II. Đây là kết quả nổi bật, cho thấy động lực phát triển của nền kinh tế tiếp tục được củng cố trong bối cảnh quốc tế nhiều bất ổn. Công nghiệp và xây dựng tăng 11,21%; dịch vụ tăng 8,69%; nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,02%. Như vậy, tăng trưởng không chỉ dựa vào một lĩnh vực đơn lẻ mà có sự đóng góp của nhiều khu vực kinh tế.

Đáng chú ý, tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp phép hơn 50 tỷ USD tăng trên 76%, vốn nước ngoài được thực hiện trong 9 tháng đạt khoảng 21,07 tỷ USD, tăng 12,1% so với cùng kỳ năm trước, mức cao nhất của 9 tháng trong vòng 5 năm. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa đạt 888,02 tỷ USD, tăng 30,4%; trong đó xuất khẩu đạt 434,30 tỷ USD, tăng 24,5%. Những kết quả này phản ánh sức sản xuất, khả năng kết nối thị trường và sức hấp dẫn đầu tư của nền kinh tế Việt Nam.

Đầu tư toàn xã hội tiếp tục tăng; thu ngân sách nhà nước chín tháng trên 2,1 triệu tỷ đồng tăng 12,1% so với cùng kỳ năm trước; hoạt động thương mại, vận tải, du lịch và nhiều ngành dịch vụ duy trì đà phát triển. Đó không chỉ là những con số trên báo cáo, mà còn phản ánh hoạt động của hàng triệu người lao động, doanh nghiệp, cơ sở sản xuất và những nỗ lực điều hành của các cấp, các ngành.

2. Nhìn ra một số nước có điều kiện tương đồng với Việt Nam để có thêm một nhận định khách quan hơn về những nỗ lực của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam.

Theo Triển vọng phát triển châu Á tháng 7-2026 của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), dự báo tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2026 ở mức 7,2%, cao hơn Indonesia khoảng 5,2%, Malaysia 4,6%, Philippines 3,8% và Thái Lan 1,8%. Các tổ chức quốc tế có thể đưa ra những dự báo khác nhau, nhưng các con số này cho thấy Việt Nam tiếp tục nằm trong nhóm nền kinh tế có triển vọng tăng trưởng nổi bật của Đông Nam Á.

So sánh ấy không nhằm tự mãn, càng không phải để xem nhẹ thành tựu của các nước láng giềng. Mỗi quốc gia có điều kiện phát triển, quy mô và những thách thức riêng. Nhưng qua đó cho thấy Việt Nam đang có những lợi thế đáng kể về công nghiệp chế biến, xuất khẩu, thu hút đầu tư và quy mô thị trường.

Trong khi nhiều nền kinh tế chịu sức ép từ nhu cầu bên ngoài suy yếu, chi phí năng lượng tăng và bất ổn địa chính trị, Việt Nam vẫn duy trì được nhịp độ tăng trưởng cao. Đó là kết quả của nhiều yếu tố: Sự nỗ lực của nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp; thành quả tích lũy qua nhiều năm đổi mới; khả năng thích ứng của nền kinh tế; việc mở rộng quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế; cùng những nỗ lực hoàn thiện thể chế, phát triển hạ tầng và cải thiện môi trường đầu tư của đất nước ta.

Nhìn từ thực tiễn, công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo đã tạo nên những chuyển biến sâu sắc trong đời sống đất nước. Việt Nam từ một nền kinh tế nghèo nàn, chịu hậu quả nặng nề của chiến tranh, đã từng bước mở rộng sản xuất, phát triển công nghiệp, nâng cao đời sống nhân dân và hội nhập ngày càng sâu vào kinh tế thế giới. Những kết quả đạt được trong 9 tháng năm 2026 là một mắt xích mới trong tiến trình ấy nó là cơ sở để đất nước vững bước đi lên trong kỷ nguyên mới của dân tộc.

Thực tiễn đó khẳng định rằng sự lựa chọn độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, tiến hành đổi mới phù hợp với điều kiện Việt Nam, phát huy sức mạnh toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại là hướng đi có cơ sở lịch sử và thực tiễn. Đảng giữ vai trò lãnh đạo đất nước; hiệu quả của sự lãnh đạo phải được thể hiện bằng đường lối đúng đắn, năng lực tổ chức thực hiện, tinh thần phục vụ nhân dân và khả năng tự đổi mới, tự chỉnh đốn của mình.

Tuy nhiên, thời gian qua trên mạng xã hội và trên một số diễn đàn vẫn có những cái nhìn chưa khách quan về Việt Nam, chỉ nhăm nhăm tập trung vào “mặt tối”, khai thác một vụ việc tiêu cực rồi quy kết cho toàn bộ chế độ; hoặc cố tình tách rời thành tựu kinh tế - xã hội khỏi bối cảnh lịch sử, điều kiện phát triển và những biến động quốc tế.

3. Trước thực tế đó, chúng ta cần phân biệt rõ giữa phản biện có trách nhiệm với sự phủ định cực đoan; giữa phát hiện sai phạm để sửa chữa với lợi dụng sai phạm để xuyên tạc bản chất vấn đề. Một xã hội còn những bất cập không có nghĩa là mọi thành tựu đều giả tạo. Một nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng cao cũng không có nghĩa là người dân đã hết khó khăn. Nhận thức khoa học đòi hỏi phải nhìn thấy cả hai mặt, đánh giá bằng chứng cứ, so sánh đúng phương pháp và tránh những kết luận vượt quá thực tế.

Với những quan điểm thiếu khách quan, cách phản bác thuyết phục nhất không phải là né tránh câu hỏi, mà là đưa ra số liệu đáng tin cậy, lập luận chặt chẽ và kết quả thực tiễn. Sự thật phải được làm sáng tỏ bằng sự thật.

Thành tựu kinh tế-xã hội 9 tháng năm 2026 chưa phải là đích đến. Chặng đường phía trước vẫn còn nhiều thách thức, đòi hỏi đất nước phải tăng năng suất lao động, nâng cao năng lực công nghệ, củng cố sức mạnh doanh nghiệp trong nước, bảo đảm an sinh xã hội và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực. Mỗi thành tựu cần trở thành động lực để tiến lên, mỗi hạn chế phải được coi là nhiệm vụ cần giải quyết.

Nhìn lại 9 tháng qua, có đủ cơ sở để chúng ta trân trọng những thành quả của đất nước, tin tưởng vào sức mạnh của dân tộc và khẳng định giá trị thực tiễn của con đường đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng. Niềm tin ấy không đến từ những lời ca ngợi một chiều, mà được xây dựng trên cơ sở sự thật, trách nhiệm và khát vọng xây dựng, phát triển đất nước giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.

Yêu nước không chỉ là tự hào về thành tựu, mà còn là thái độ dũng cảm nhìn thẳng vào những điều chưa tốt để góp sức sửa chữa, khắc phục. Bảo vệ thành quả cách mạng không có nghĩa là im lặng trước khuyết điểm; càng không thể đồng nhất lòng yêu nước với thái độ phủ nhận sạch trơn những gì đất nước đã làm được. Điều cần thiết là chúng ta tiếp tục đoàn kết, nỗ lực đổi mới, hành động quyết liệt và phát huy sức mạnh toàn dân tộc, để Việt Nam vững bước tiến vào kỷ nguyên mới, với nhịp độ phát triển nhanh hơn, bền vững hơn, nhân dân có cuộc sống ngày càng ấm no, tự do và hạnh phúc.

Đó cũng là cách thiết thực nhất để khẳng định con đường đi lên của đất nước và biến niềm tin thành sức mạnh hành động để đưa đất nước vươn mình sánh vai cùng các cường quốc trong khu vực và thế giới.