QĐND - Hát then, một di sản văn hóa tinh thần của đồng bào các dân tộc Tày, Nùng, Thái định cư ở vùng núi phía Bắc đang trên hành trình hoàn thiện hồ sơ đệ trình UNESCO công nhận là Di sản phi vật thể đại diện của nhân loại.
Vượt ra khỏi không gian của núi rừng phía Bắc, hát then từ nhiều đời nay đã theo người di cư khắp mọi miền đất nước, đã lan tỏa trong trái tim những người yêu văn hóa và nghệ thuật truyền thống dân tộc. Cái đẹp của hát then nằm ở chỗ nó mở ra một không gian mênh mông của rừng núi điệp trùng, gợi một cảm giác phóng khoáng, chân thành và da diết như chính tâm hồn đồng bào các tộc người nơi đây. Nhưng để đàn và hát thành thạo thể loại nghệ thuật này, cần có một niềm đam mê và sự khổ luyện. Hát then đến nay vẫn có sức sống mạnh mẽ trong các gia đình có truyền thống nhiều đời thực hành nghi lễ then, các thế hệ nghệ sĩ theo đuổi nghệ thuật hát then, đàn tính, sáng tác then mới. Nhưng đó chỉ là một phần nổi của cả một nghệ thuật hát then trải dài ở nhiều tỉnh miền núi phía Bắc, phổ biến nhất ở các tỉnh: Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Hà Giang, Thái Nguyên, Bắc Giang… Điều đáng nói, chính là hát then trong dân gian và đây mới là di sản quý bậc nhất của nghệ thuật này đối với dân tộc.
 |
| Biểu diễn hát then. Ảnh: TTXVN. |
Cũng giống như hát văn của người Kinh, hát then có vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sống tâm linh cũng như tinh thần của đồng bào các dân tộc: Tày, Nùng, Thái. Then được dùng để thể hiện tâm tư tình cảm, ước mơ nguyện vọng của người dân và được thần linh hóa bằng cầu nối giữa các yếu tố đất-trời-biển và mượn yếu tố tâm linh làm sợi dây nối. Chính vì hát then chứa đựng yếu tố tâm linh, cho nên người hát then hết sức quan trọng, họ cần phải là những người có đủ tài năng, được cấp sắc do hội đồng thực hành then lớn tuổi, có uy tín công nhận thì được gọi là ông Then hoặc bà Then.
Đặc sắc là thế nhưng những năm gần đây, cùng với sự phát triển của kinh tế, các phương tiện truyền thông đã hiện hữu tại những nơi xa xôi của đất nước, vì thế đời sống tinh thần của nhân dân trong vùng văn hóa nuôi dưỡng hát then có những xáo trộn đáng kể. Dễ nhận thấy thanh niên vùng văn hóa này dần quen với nhịp sống hiện đại khi mà phương tiện đi lại chủ yếu là xe gắn máy, truyền hình đa phương tiện về tới mỗi nhà, điện thoại thông minh cũng đến tận tay. Những nghệ thuật, âm nhạc của giới trẻ thế giới nói chung, Việt Nam nói riêng ít nhiều tác động tới bộ phận thanh niên này, điều đó một mặt góp phần thúc đẩy sự phát triển văn hóa, nhưng mặt khác cũng là nguy cơ tiềm ẩn cho những mai một văn hóa truyền thống nói chung, hát then nói riêng.
Nhưng ở những cuộc trình diễn then, liên hoan hát then hoặc ở các buổi sinh hoạt cộng đồng của bà con dân tộc nơi đây vẫn luôn có sự hiện hữu nối tiếp của các thế hệ. Những âm thanh mới của nhạc trẻ như pop, jazz… những điệu nhảy sôi động của hip-hop không thể đẩy lùi được giai điệu trầm bổng, vang vọng của hát then cùng cây đàn tính. Không chỉ có con cháu trong các gia tộc có truyền thống thực hành then, mà ở khắp các làng bản của người Tày, Nùng, Thái luôn có những câu lạc bộ hát then, lớp truyền dạy then với những giọng ca trẻ chỉ chừng 10-12 tuổi.
Gìn giữ, bảo tồn nghệ thuật truyền thống ở nước ta từ ngàn đời nay vẫn là do dân, dựa vào dân. Chẳng có hình thức nào tốt hơn khi chính người dân của di sản đó gìn giữ, phát huy trong không gian sống của nó. Nhưng khi di sản đã lan tỏa, hướng đến sự công nhận của cộng đồng, của thế giới thì cần thiết hơn là chiến lược phát triển song song để bảo tồn nét văn hóa đặc sắc này trong đời sống đồng bào các dân tộc miền núi phía Bắc. Trong đó, việc bảo tồn sinh hoạt văn hóa hát then cổ truyền được coi là trọng tâm, nhưng cũng cần chú ý tới sự hiện diện và phát triển then chuyên nghiệp, vì đây chính là một trong những yếu tố hữu hiệu đưa then bay xa tới các vùng văn hóa khác. Cần nữa là chế độ chính sách chăm lo cho nghệ nhân, người thực hành và cả thế hệ trẻ đang ngày đêm “giữ lửa” cũng như kế thừa nghệ thuật truyền thống hát then. Cũng có nghĩa, việc bảo tồn và phát huy hát then cần chú ý tới hướng bảo tồn đa dạng, trong đó việc khuyến khích những gia đình có truyền thống hát then truyền dạy, tham gia sinh hoạt văn hóa cộng đồng, tiếp sức trong việc hoàn thiện hồ sơ hát then trình UNESCO để loại hình di sản văn hóa này ngày một lan tỏa tới bạn bè quốc tế.
NGUYỄN QUANG LONG