QĐND - Đọc bản tin cập nhật thị trường lao động Quý I-2014 do Bộ Lao động-Thương binh-Xã hội và Tổng cục Thống kê vừa công bố, chắc chắn nhiều người sẽ giật mình. Tính đến thời điểm cuối năm 2013, cả nước có hơn 900.000 người thất nghiệp, trong đó có hơn 72.000 người có trình  độ đại học trở lên, gấp 1,7 lần so với cuối năm 2012. Rất nhiều ngành “hot” trong các kỳ thi tuyển sinh đại học mấy năm trước, nay cử nhân ra trường lại khó kiếm được việc làm như sư phạm, ngân hàng, tài chính, kế toán, báo chí… Điều đáng báo động là những ngành đang thừa cử nhân nói trên vẫn là sự lựa chọn của nhiều học sinh trong mùa tuyển sinh đại học, cao đẳng năm nay.

Có nhiều nguyên nhân dẫn tới tình trạng thừa cử nhân, trong đó có nguyên nhân quan trọng từ các trường đại học, cao đẳng ồ ạt mở các ngành đào tạo mà không tính đến cán cân “cung-cầu” nhân lực. Quan niệm bằng đại học là "giấy thông hành" để bước vào đời đã dẫn đến tư tưởng muốn làm thầy, không muốn làm thợ. Mặt khác, chất lượng đào tạo ở nhiều trường đại học, cao đẳng chưa cao nên lao động mới tốt nghiệp không đáp ứng được nhu cầu tuyển dụng của các cơ quan, doanh nghiệp.

Ảnh minh họa: TTXVN

Trong lúc ở nhiều ngành, nhiều địa phương thừa cử nhân, vẫn còn không ít ngành và địa phương đang cần nhân lực có trình độ đại học. Mới đây nhất, tại cuộc hội thảo về nhân lực cho ngành điện hạt nhân, Bộ Giáo dục và Đào tạo cho biết, ngành năng lượng nguyên tử của Việt Nam hiện mới có khoảng 800 cán bộ khoa học và đến năm 2020 Việt Nam cần khoảng 4.355 nhân lực cho lĩnh vực này. Báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng cho biết, trong ngành sư phạm, hiện còn rất nhiều cử nhân thất nghiệp, nhưng đến đầu năm học này, cả nước còn thiếu tới 27.000 giáo viên. Bộ Y tế mới đây cũng công bố, cả nước có  hơn 20% số xã, phường, thị trấn chưa có bác sĩ...

Tình trạng thừa, thiếu cử nhân đã và đang ảnh hưởng tiêu cực đến uy tín của các cơ sở đào tạo có chất lượng và toàn xã hội. Tuy nhiên, để giải quyết nghịch lý này không hề đơn giản. Trước hết, cần phải khảo sát tổng thể trên phạm vi cả nước để biết ngành nào thừa, ngành nào thiếu cử nhân nhằm định hướng cho các trường đào tạo. Tiếp đó cần có quy hoạch phát triển nguồn nhân lực trong từng ngành, từng địa phương, từng lĩnh vực. Sau đó các trường phổ thông, thầy cô giáo và phụ huynh học sinh phải làm tốt công tác tư vấn nghề nghiệp cho học sinh, hướng dẫn các em không nên chọn nghề theo cảm tính, theo “phong trào”.

Các cơ quan chức năng của Nhà nước, trên cơ sở quy hoạch nguồn nhân lực và tình hình thực tế, cần ban hành cơ chế chính sách khuyến khích đào tạo các ngành mà xã hội sẽ cần. Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng thừa cử nhân kế toán, quản trị, kinh doanh, luật, báo chí... do dạy những ngành này không tốn kém, nên các trường ào ạt mở để thu lợi nhuận. Chính vì vậy cần phải thay đổi về định mức kinh phí đào tạo cho từng ngành.

Cũng cần phải điều chỉnh quy hoạch mạng lưới cơ sở đào tạo cho phù hợp với nhu cầu phát triển nhân lực của cả nước cũng như từng vùng, từng địa phương. Các bộ ngành cũng cần xây dựng chuẩn năng lực cho từng chức danh lao động và xây dựng lại quy chế tuyển dụng, sử dụng nhân lực công khai, minh bạch theo năng lực là chủ yếu, bằng cấp chỉ là điều kiện cần.

Nếu thực hiện đồng bộ các giải pháp nói trên, chắc chắn, nghịch lý thừa - thiếu cử nhân sẽ giảm.

ĐỖ PHÚ THỌ