Tỉnh Yên Bái lắp đặt hàng trăm trạm đo mưa như thế này nhưng hầu như không có hiệu quả trong việc cảnh báo lũ - Ảnh TT

Thảm họa lũ quét, lũ ống hoành hành các tỉnh miền núi nước ta ngày càng nhiều, vấn đề cảnh báo sớm nguy cơ lũ trở thành mối quan tâm của các cấp, các ngành và địa phương. Ở tỉnh Yên Bái, sau trận lũ quét tàn phá huyện Văn Chấn năm 2005, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã triển khai dự án lắp đặt 5 trạm cảnh báo lũ quét tự động (tổng trị giá 150 triệu đồng) tại các địa bàn trọng điểm thường xảy ra lũ. Ngoài ra, 290 bộ thiết bị đo mưa được lắp đặt trên khắp các xã của tỉnh. Tuy nhiên, trong trận lũ lớn xảy ra ở vùng núi phía Bắc vừa qua, Yên Bái là một trong những tỉnh chịu thiệt hại nặng nề nhất, trong khi hệ thống các thiết bị cảnh báo lũ lại không hề hoạt động.

Đối với các trạm cảnh báo lũ tự động, theo lý thuyết, khi lượng mưa đến ngưỡng khoảng 90 mm/g thì hệ thống cảnh báo sẽ hú còi báo động. Tuy nhiên, từ ngày lắp đặt đến nay, những người dân sống gần đó khẳng định chưa thấy hệ thống này “hú còi” bao giờ. Và theo những người có kinh nghiệm, nếu hệ thống cảnh báo tự động chỉ căn cứ vào lượng mưa để phát tín hiệu báo động thì cũng chưa chuẩn, vì tình hình lũ quét rất phức tạp, không chỉ dựa vào lượng mưa mà còn có yếu tố của thảm phủ mưa và địa hình. Thực tế có những trận mưa trên 90 mm/g nhưng không xảy ra lũ, có những trận mưa không lớn nhưng vẫn xảy ra lũ quét. Còn đối với các thiết bị đo mưa thủ công, khi tổ chức lắp đặt, tỉnh Yên Bái cũng đã chi một lượng kinh phí hàng trăm triệu đồng để đào tạo, hướng dẫn hàng trăm cán bộ của các xã sử dụng thiết bị trên và mua áo mưa, đèn pin... để lực lượng này làm nhiệm vụ. Tuy nhiên, tại các xã bị lũ quét nặng trong cơn bão số 4 vừa qua, người dân đã bị bất ngờ khi lũ quét ập đến. Lực lượng cán bộ đo mưa tại các địa phương chủ yếu là do cán bộ xã kiêm nhiệm nhưng chưa có quy định nào bắt buộc họ phải đo mưa để báo về huyện trong thời gian có nguy cơ xảy ra lũ. Vì vậy, khi được kiểm tra, những cán bộ kiêm chức đo mưa đã hồn nhiên trả lời: “Đã đo mưa và báo cho những gia đình có điện thoại biết”...

Lắp đặt hệ thống cảnh báo lũ mới chỉ là một mắt xích ở cơ sở. Điều đáng nói là trong những ngày xảy ra lũ quét, chúng tôi đã cập nhật website của Viện Khí tượng thủy văn để tìm kiếm những dự báo, cảnh báo từ cơ quan chuyên trách này. Đáng tiếc là những thông tin đưa lên còn thuần túy số liệu, không được tổng hợp, phân tích và “bình dân hóa” để người dân có thể hiểu rằng, với những thông số kỹ thuật, đo đạc đó, liệu lũ có xuất hiện ở vùng này, vùng kia hay không. Ngay cả những người có kiến thức khí tượng thủy văn mà khi cập nhật tin tức từ website này còn phải kêu: “Thật khó biết những bản tin cung cấp thông tin gì”.

Rõ ràng, công tác cảnh báo lũ đang có nhiều “lỗ hổng” nghiêm trọng. Trong trường hợp trang thiết bị còn yếu thì đội ngũ cán bộ chuyên môn, từ cán bộ nghiên cứu ở Trung ương đến những người “đo gió, đo mưa” ở cơ sở cần có sự đề cao cảnh giác, phát huy tinh thần năng động, sáng tạo, đề cao trách nhiệm trước tính mạng và tài sản của nhân dân thì mới có hy vọng lấp đầy “lỗ hổng” này. Hy vọng, việc rút ra bài học sau thảm họa lũ quét năm nay sẽ giúp công tác cảnh báo lũ khắc phục được hạn chế trong thời gian tiếp theo.

HỒNG HẢI