QĐND - Du lịch tôn giáo và tín ngưỡng thịnh hành trên thế giới từ khi nhân loại bước sang văn minh hậu công nghiệp. Nhu cầu muốn tạm thoát nhịp sống gấp gáp của thời hiện đại mở ra lựa chọn cho khách hành hương tới những địa chỉ tôn giáo và tín ngưỡng để tĩnh tâm, thỏa mãn nhu cầu tinh thần, trút bỏ được các cảm xúc khổ đau, vun đắp tâm nguyện hướng thiện, tỏ lòng thành kính với tổ tiên, với các bậc tiền nhân dày công đức với dân tộc.
Dù cách diễn đạt có khác nhau, nhưng xét tổng thể, du lịch tôn giáo và tín ngưỡng thực chất là một trong những loại hình du lịch văn hóa nhằm thỏa mãn nhu cầu tôn giáo và tín ngưỡng trong đời sống tinh thần du khách, hướng đến những điều cao đẹp, tạo cơ hội cho mỗi cá nhân thể hiện lòng mình với lẽ phải, điều thiện; với tổ tiên và quốc gia, dân tộc. Với cách nhìn nhận đó, du lịch tôn giáo và tín ngưỡng khai thác những yếu tố về đức tin và những giá trị tinh thần đặc biệt trong quá trình diễn ra các hoạt động du lịch. Khi đời sống vật chất ngày càng được nâng cao, xã hội càng hiện đại thì con người ta lại càng có nhu cầu nâng cao hơn nữa đời sống tinh thần. Du lịch tôn giáo và tín ngưỡng bao hàm cả việc tìm kiếm các giá trị văn hóa truyền thống lẫn tìm lại chính mình, làm trỗi dậy sự giác ngộ của khách du lịch tại những địa danh tôn giáo và tín ngưỡng chính là mục tiêu của các tour du lịch này.
 |
| Đông đảo du khách đến thăm chùa Bái Đính (Gia Viễn, Ninh Bình). Ảnh: Mạnh Thắng. |
Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, bên cạnh sự tồn tại của các tín ngưỡng bản địa, các di tích lịch sử văn hóa gắn với quá trình dựng nước và giữ nước, Việt Nam là nơi hội tụ nhiều tôn giáo lớn trên thế giới, để lại nhiều di sản vật thể và phi vật thể giá trị. Nếu sử dụng lợi thế này để phát triển du lịch, chắc chắn Việt Nam sẽ có ưu thế hơn các nước trong khu vực. Tuy nhiên, có điều chưa vui là du khách đến với các địa chỉ du lịch tôn giáo và tín ngưỡng chủ yếu là các tín đồ, còn khách du lịch vô thần ghé đến các địa điểm tôn giáo, tín ngưỡng chỉ như là một điểm dừng "nhân tiện" trong lộ trình du lịch, hoặc chỉ để nhìn ngắm, mua bán... tham gia các hoạt động bề nổi mà thôi. Triết lý sâu sắc, kỳ vĩ và lộng lẫy trong các di tích tôn giáo, tín ngưỡng, các điểm thờ tự chưa được khai thác triệt để, chưa trở thành động lực thôi thúc đại đa số du khách. Đặc biệt nhiều di tích thờ tự các bậc có công trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc chưa trở thành nơi giáo dục, bồi đắp lòng yêu nước, tinh thần tự hào dân tộc cho các thế hệ sau.
Để phát triển du lịch tôn giáo và tín ngưỡng thì điều thiết yếu đầu tiên là mỗi một di tích tôn giáo và tín ngưỡng phải sắp xếp quy củ, có hệ thống tổ chức và có hoạt động hành đạo đúng với tôn chỉ tôn giáo, tín ngưỡng của mình và cũng đúng pháp luật, kiên quyết loại trừ những hoạt động mê tín dị đoan. Công tác quảng bá những sự tích linh thiêng gắn với di tích tôn giáo và tín ngưỡng cũng là cần thiết và phải có cách làm phong phú, lôi cuốn, trong khuôn khổ luân lý, đạo đức truyền thống dân tộc.
Thêm một điều nữa, các công ty du lịch cần phối hợp chặt chẽ với các tổ chức quản lý di tích tôn giáo và tín ngưỡng thiết kế nội dung tour du lịch gần gũi với sinh hoạt của tôn giáo và tín ngưỡng như: Ngồi thiền, ăn chay, dự giờ giảng kinh, lễ Noel, lễ Phục Sinh... Làm được như vậy, du khách mới thực sự thẩm thấu và yêu thích giá trị chiều sâu của các tôn giáo và tín ngưỡng.
Du lịch tôn giáo và tín ngưỡng cần lộ trình phát triển lâu dài, thận trọng để thực sự trở thành thế mạnh của du lịch Việt Nam trong tương lai. Nếu được tổ chức bài bản, thực sự bền vững, du lịch tôn giáo và tín ngưỡng sẽ trở thành một bộ phận trong đời sống văn hóa tinh thần của dân tộc, nơi giữ lửa, truyền lửa cho các thế hệ tiếp nối, nơi giữ gìn bản sắc và những giá trị tốt đẹp của truyền thống văn hóa, lịch sử của ngàn đời. Đây cũng là món quà thiêng liêng để người dân tại địa phương có di tích tôn giáo và tín ngưỡng cải thiện đời sống và có trách nhiệm gìn giữ, phát huy giá trị văn hóa từ các tôn giáo và tín ngưỡng.
HÀ PHAN