Phụ nữ Việt Nam không quản ngại khó khăn. Ảnh: Theo Interenet

Ở nước ta, vấn đề bình đẳng nam nữ, phân biệt đối xử không còn nặng nề nữa, nhưng mấy năm gần đây, tại một số địa phương, nhân phẩm phụ nữ đang bị xúc phạm, làm xấu đi hình ảnh người phụ nữ Việt Nam, ảnh hưởng đến thuần phong mỹ tục của dân tộc. Những vụ môi giới cô dâu với người nước ngoài và những trại “xem mắt” cô dâu lén lút mọc lên ở nhiều tỉnh, thành phố phía Nam đang gây nhức nhối xã hội. Ở những nơi này, phần lớn những thiếu nữ trẻ trung sinh ra, lớn lên từ các miệt vườn êm đềm, lành mạnh, vô hình trung trở thành thứ hàng hóa, bị khám xét, kiểm tra thân thể, để người nước ngoài ngã giá, chọn lựa... hoàn toàn xa lạ với văn hóa và lối sống Việt Nam. Hậu quả của những phi vụ hôn nhân đậm màu thị trường ấy đã rõ. Không ít cô gái đi làm dâu nước ngoài sau đó không lâu rơi vào cảnh bất hạnh, bị đối xử ngược đãi, tàn tệ. Đã có những cô không chịu nổi sự cực nhục đành tìm đến cái chết oan uổng, tức tưởi.

Vì đâu nên nỗi? Trước hết là do những cô gái trẻ hám lợi, thiếu hiểu biết, không được giáo dục, dạy dỗ tử tế; mơ hạnh phúc viển vông ở phương trời xa. Sự nuôi dưỡng, chỉ bảo của gia đình, người thân với các cô gái không đầy đủ. Và, điều chắc chắn là các cô thiếu sự quan tâm theo dõi, dìu dắt của các đoàn thể thanh niên, phụ nữ và chính quyền địa phương.

Đành rằng, cuộc sống kinh tế khó khăn của các gia đình là nguyên nhân chính đưa đẩy các cô gái trẻ tìm đến con đường lấy chồng ngoại quốc. Nhưng để giải quyết khó khăn về kinh tế, các đoàn thể và chính quyền địa phương có rất nhiều biện pháp khả thi, giúp đỡ, tạo công ăn, việc làm cho các cô ngay tại quê nhà chứ không phải chỉ còn một cách là lấy chồng ngoại. Pháp luật của Nhà nước ta không ngăn cấm phụ nữ lấy chồng là người nước ngoài nhưng hiện tượng đua nhau lấy chồng ngoại chỉ vì tiền, không có một chút tình là hiện tượng không bình thường, cần phải giáo dục, định hướng đúng đắn.

Theo số liệu thống kê của Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh, số người xin đăng ký kết hôn với người nước ngoài trong năm 2006 là 3.742 người; năm 2007 là hơn 3.000 trường hợp. Ở các tỉnh khác, chưa thống kê được đầy đủ, song cũng trên dưới nghìn người mỗi năm. Tình trạng này không chỉ gây tâm lý bất thường trong xã hội mà còn ảnh hưởng đến sự mất cân đối về tỉ lệ nam nữ do cơ học, rất đáng lo ngại. Đáng lo ngại là tình trạng này vẫn chưa có dấu hiệu giảm. Hầu như những thảm cảnh của các cô gái người Việt làm dâu tại Đài Loan, Hàn Quốc gần đây vẫn chưa đủ để cảnh báo về nguy cơ bất hạnh khi làm dâu xứ người mà không xuất phát từ tình yêu đích thực.

Để ngăn chặn tình trạng trên, cần phải có sự phối hợp đồng bộ của toàn xã hội. Trước hết, tổ chức Hội Phụ nữ từ cơ sở đến các cấp cần tăng cường hoạt động, tuyên truyền giáo dục để chị em có nhận thức đúng đắn về hôn nhân gia đình và biết giữ phẩm hạnh phụ nữ. Thông qua các cuộc sinh hoạt, hội thảo, tổ chức Hội cần tạo dư luận phê phán lối sống thực dụng, tình yêu thực dụng, hướng chị em vào mục tiêu xây dựng gia đình văn hóa, coi trọng gia phong, nét đẹp và đạo đức truyền thống của phụ nữ Việt Nam. Các cấp chính quyền cùng với các cơ quan chức năng ở địa phương - nhất là vùng xa, vùng sâu – vừa tuyên truyền, giáo dục, vừa tăng cường công tác quản lý địa bàn, gần gũi nhân dân, sớm phát hiện, ngăn chặn, xử lý nghiêm những kẻ cò mồi, hám lợi, mở các điểm “xem mắt” cô dâu trái phép, môi giới cho người nước ngoài. Khi phát hiện những hành vi xâm hại đến nhân phẩm phụ nữ, các cơ quan chức năng cần phải xử lý kiên quyết, nghiêm minh trước pháp luật và tạo dư luận lên án mạnh mẽ. Đó là hành động thiết thực bảo vệ nhân phẩm phụ nữ.

ĐÀO VĂN SỬ