Mấy tuần qua, một số tỉnh miền Trung và Nam Bộ đã ra chỉ thị cấm nông dân trong tỉnh bán mía cho các doanh nghiệp ngoài tỉnh. Mới nghe, quả là một chỉ thị kiểu “ngăn sông cấm chợ” thời bao cấp, ngày nay không thể chấp nhận được. Nhưng tìm hiểu kỹ, không phải là các địa phương trên không có lý khi phải làm cái việc tưởng như là “kéo lùi lịch sử” ấy!...
 |
| Ảnh minh họa/Internet |
QĐND - Mấy tuần qua, một số tỉnh miền Trung và Nam Bộ đã ra chỉ thị cấm nông dân trong tỉnh bán mía cho các doanh nghiệp ngoài tỉnh. Mới nghe, quả là một chỉ thị kiểu “ngăn sông cấm chợ” thời bao cấp, ngày nay không thể chấp nhận được. Nhưng tìm hiểu kỹ, không phải là các địa phương trên không có lý khi phải làm cái việc tưởng như là “kéo lùi lịch sử” ấy!
Ấy là, khi cấp phép xây dựng các nhà máy chế biến đường, các địa phương đã có quy hoạch vùng nguyên liệu mía tại chỗ. Những năm gần đây, thực hiện chủ trương gắn kết các “nhà” (Nhà nước, nhà nông, nhà doanh nghiệp…), các doanh nghiệp chế biến đường cũng đã đầu tư hỗ trợ nông dân một phần và ký kết tiêu thụ cây mía đến kỳ thu hoạch. Thế mà nay nông dân phá bỏ hợp đồng, bán mía cho doanh nghiệp khác trả giá cao hơn, khiến nhà máy sở tại “khát mía” trầm trọng, triền miên… Như thế là nông dân đã vi phạm hợp đồng kinh tế, cần phải được xử lý nghiêm. Khổ nỗi, việc xử lý sự “vi phạm” trên đây bằng các chế tài pháp lý lại rất khó, vì sự ràng buộc về pháp lý giữa nông dân trông mía và các nhà máy đường lâu nay rất lỏng lẻo. Chính ông Tổng thư ký Hiệp hội Mía đường Việt Nam mới đây cũng thừa nhận trên báo chí: “Lúc đường đắt thì các doanh nghiệp tranh mua nguyên liệu; ngược lại thì ép giá bỏ rơi nông dân”. Tình trạng hết trồng lại phá, hết phá lại trồng và điệp khúc “được mùa-rớt giá” là biểu hiện rõ rệt nhất cho mối quan hệ bất cập giữa “hai nhà” trên đây và trách nhiệm của “nhà nước địa phương” trong công tác quy hoạch vùng nguyên liệu mía. Ngoài ra, với giá thu mua như hiện nay thì người nông dân cũng không mặn mà gì với cây mía. Cho nên trong vòng 10 năm gần đây, tổng diện tích đất trồng mía cả nước đã giảm mất một nửa và nguy cơ vẫn còn tiếp tục giảm. Vì vậy, việc các nhà máy đường “khát mía” triền miên và việc ngành mía đường thua trên sân nhà vì giá đường nhập ngoại rẻ hơn là điều khó tránh khỏi.
Rõ ràng cần phải thiết lập mối quan hệ ràng buộc mật thiết giữa nông dân và doanh nghiệp bằng những chế tài pháp lý hài hòa giữa quyền lợi và nghĩa vụ, trong đó cần thu hút nông dân trồng mía trở thành những cổ đông của các nhà máy đường là tối ưu hơn cả. Chính quyền các cấp phải quan tâm chỉ đạo công tác quy hoạch vùng nguyên liệu mía ổn định, đi đôi với công tác dự báo thị trường, tránh mất cân bằng cung-cầu cục bộ và toàn ngành. Mặt khác, các doanh nghiệp cần tính toán cắt giảm chi phí sản xuất để hỗ trợ giá thu mua nguyên liệu cho nông dân mà vẫn “kéo” giá đường sản xuất trong nước thấp hơn giá đường nhập ngoại; đồng thời Nhà nước và doanh nghiệp phải hỗ trợ nông dân về kỹ thuật để tăng năng suất cây mía, không để năng suất mía của ta thấp nhất thế giới và chỉ bằng một nửa năng suất mía của Thái Lan như hiện nay.
Giải quyết tốt các vấn đề trên đây thì ngành công nghiệp mía đường của nước ta mới phát triển bền vững, xứng đáng với tiềm năng vốn có của một nước nông nghiệp. Và như thế, cây mía mới thực sự… ngọt ngào đối với bà con nông dân…
Mai Nam Thắng