QĐND - Không còn xa lạ trong thế giới công nghệ thông tin, nhưng đây là lần đầu tiên thuật ngữ “đám mây” được nhắc đến trong một số văn bản mang tính dự thảo quy phạm pháp luật tại cuộc Hội thảo khoa học đánh giá việc thực thi pháp luật trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn (NTBD) và định hướng xây dựng Luật NTBD, do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức, vừa diễn ra tại TP Hồ Chí Minh. “Điện toán đám mây” (Cloud Computing) là mô hình điện toán sử dụng các công nghệ máy tính, phát triển dựa vào internet. Thuật ngữ "đám mây" là cách nói ẩn dụ chỉ internet (dựa vào cách bố trí của nó trong sơ đồ mạng máy tính) ứng dụng trong công tác quản lý, điều hành. Trong bối cảnh nhu cầu và sự phát triển của đời sống văn hóa-nghệ thuật đã “số hóa” sản phẩm ở nhiều lĩnh vực, thì công tác quản lý Nhà nước đối với NTBD vẫn phải áp dụng những cách thức cũ, nhiều nội dung đã lỗi thời, lạc hậu. Những bất cập trong các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành cùng thủ tục rườm rà về mặt hành chính khiến công tác quản lý Nhà nước về NTBD chưa theo kịp tốc độ phát triển của xã hội. Vì vậy, hoạt động NTBD đã và đang bộc lộ nhiều biểu hiện, khuynh hướng “lệch chuẩn” văn hóa. Xu hướng thương mại hóa, tình trạng “lách luật” vì lợi nhuận, chế tài xử phạt chỉ mang tính hình thức, chưa đủ sức răn đe… làm cho môi trường NTBD phát sinh những biểu hiện phản cảm, nhảm nhí, câu khách rẻ tiền, ảnh hưởng xấu đến thị hiếu thẩm mỹ của công chúng.
Bất cập là thế nhưng đội ngũ những người làm nghề vẫn phàn nàn, công tác quản lý Nhà nước về NTBD chưa thông thoáng, chưa tạo điều kiện thuận lợi nhất để nghệ sĩ có môi trường tự do sáng tạo. Một số quy định hiện hành về quản lý NTBD ở nước ta chưa phù hợp với thông lệ quốc tế, dẫn đến hiện tượng tổ chức, cá nhân cố tình đi thi “chui”, diễn “chui” để nộp phạt.
Văn bản nhiều nhưng lại không “chặt”, nhiều sơ hở nhưng lại chưa đủ “thoáng” khiến cả cơ quan quản lý, thực thi pháp luật lẫn tổ chức, cá nhân hoạt động NTBD gặp nhiều khó khăn trong quản lý, hành nghề. Việc phải có Luật NTBD là một đòi hỏi vừa mang tính cấp bách, vừa căn bản, lâu dài để chấn chỉnh, đưa NTBD vào nền nếp vì một môi trường văn hóa-nghệ thuật lành mạnh, hiện đại, đậm đà bản sắc dân tộc.
Cũng như ở nhiều lĩnh vực kinh tế-xã hội khác, việc quản lý các sản phẩm, xuất bản phẩm NTBD đã và đang thực hiện bằng ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại. Quản lý Nhà nước trong lĩnh vực NTBD bằng hệ thống văn bản pháp luật phải phù hợp với đặc thù của NTBD và xu thế hội nhập, toàn cầu hóa. Việc định hướng xây dựng Luật NTBD không chỉ khắc phục những bất cập trong hành lang pháp lý hiện hành mà phải xuất phát từ xu hướng phát triển và nhu cầu xã hội. Muốn vậy, bên cạnh việc nghiên cứu thực tiễn, phải có tính dự báo. NTBD là lĩnh vực đặc thù, việc quản lý Nhà nước đòi hỏi phải tạo môi trường thông thoáng nhất để nghệ sĩ phát huy cao nhất khả năng sáng tạo, cống hiến. Nhưng thông thoáng không có nghĩa là buông lỏng. Để NTBD thực hiện trọn vẹn chức năng hướng con người đến “chân-thiện-mỹ” thì các quy định của pháp luật phải rất chặt chẽ. Nghệ sĩ chân chính sẽ có môi trường tự do sáng tạo cao nhất nhưng những hành vi lợi dụng nghệ thuật để trục lợi, các biểu hiện thương mại hóa, phản văn hóa, ảnh hưởng đến thuần phong mỹ tục, đi ngược lại lợi ích quốc gia, dân tộc, làm hoen ố môi trường văn hóa-nghệ thuật lành mạnh thì phải bị nghiêm trị. Sự chặt chẽ của pháp luật về NTBD không tách biệt với xu hướng hội nhập quốc tế.
Người hoạt động NTBD sẽ có môi trường tự do sáng tạo tốt nhất khi chính họ có ý thức thượng tôn pháp luật. Cho nên muốn “thoáng” thì phải “chặt”!
PHAN TÙNG SƠN