Tin vui đối với bà con nông dân: Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 154 về việc miễn thuỷ lợi phí cho nông dân. Theo đó, kể từ ngày 1-1-2008, sẽ miễn thủy lợi phí đối với hộ gia đình, cá nhân có đất, mặt nước dùng vào sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản và làm muối trong hạn mức giao đất nông nghiệp; chỉ không miễn thủy lợi phí đối với diện tích đất vượt hạn mức giao cho hộ gia đình, cá nhân.

Riêng đối với địa bàn có điều kiện kinh tế -xã hội đặc biệt khó khăn, sẽ được miễn thủy lợi phí toàn bộ diện tích đất, không phân biệt trong hay ngoài hạn mức giao đất.

Đây là một chủ trương phù hợp, đáp ứng nguyện vọng của đại bộ phận nông dân. Lâu nay, những thắc mắc, phàn nàn xoay quanh các khoản đóng góp vẫn vang lên sau luỹ tre làng, dưới mái ấm của những gia đình nông dân vốn thủy chung cùng hạt thóc. Thuỷ lợi phí được coi là một trong những khoản “nặng ký” nhất và cũng có nhiều lời ta thán nhất! Miễn thuỷ lợi phí thực sự là một lộ trình cần thiết trong nỗ lực “khoan sức dân”.

Chủ trương miễn thuỷ lợi phí, “rằng vui thì thật là vui”, nhưng làm thế nào để người nông dân hưởng lợi một cách thực chất, bền vững, chống thất thoát tiền của Nhà nước lại là những vấn đề… phải tính đến trong thực tế. Mấy năm nay, Vĩnh Phúc được coi là một nhân tố điển hình trong “khoan sức dân” với việc hỗ trợ 100% thuỷ lợi phí cho nông dân, chủ yếu từ ngân sách địa phương. Thế nhưng mới đây, nông dân một xã miền núi thuộc huyện Tam Đảo (Vĩnh Phúc) lại “doạ” sẽ nộp thuỷ lợi phí trở lại! Lý do là từ khi tỉnh miễn thuỷ lợi phí thì bà con nông dân lại… thiếu nước phục vụ sản xuất nông nghiệp. Về thực chất, thuỷ lợi phí là khoản tiền mà người dân trả để có nước cấy lúa, số tiền ấy chủ yếu dùng để “nuôi” các doanh nghiệp, tổ chức được giao nhiệm vụ quản lý, khai thác các công trình thuỷ lợi, thuỷ nông. Nay, khoản tiền ấy đã có Nhà nước bù, nếu không có phương thức quản lý và chế tài quy định rõ ràng, các đơn vị, doanh nghiệp cấp nước lơ là trách nhiệm.

Theo lộ trình, Nhà nước cấp bù số tiền thuỷ lợi phí cho các công ty thuỷ nông, đúng với chi phí thực tế trong quá trình cung cấp nước. Thế nhưng, việc đánh giá thực chất số diện tích cần nước tưới, qua bao nhiêu trạm bơm, hồ chứa, kênh mương… phải được tính toán, khảo sát kỹ càng. Nên tính đến một thực trạng, bên sử dụng nước (người nông dân) và bên cấp nước (các công ty thuỷ lợi, thủy nông) có thể “bắt tay nhau” khai khống diện tích tưới nước để hưởng lợi.

Hiện đã có địa phương tính đến việc phải rà soát toàn bộ diện tích đất cần tưới tiêu, xây dựng “bản đồ tưới nước”. Bản đồ này, gồm có sự tham gia, xây dựng, thẩm định của các ngành chức năng như tài nguyên môi trường, nông nghiệp, tài chính, thuế, chính quyền các xã, đại diện nông dân... Trong đó, nêu rõ các số liệu về diện tích, vị trí, loại ruộng cấy mấy vụ, độ cao của đất, nếu năm hạn hánnhiều phải tưới qua mấy chặng, chi phí vận hành bảo dưỡng thiết bị... Muốn kiểm tra, nghiệm thu, chỉ việc xem các chi tiết trên bản đồ, đối chiếu từng điểm bất kỳ, trên cơ sở đó có phương án chi trả hợp lý, tránh gây thất thoát tiền Nhà nước.

“Khoan sức dân”, mà cụ thể là miễn thuỷ lợi phí cho nông dân, là việc làm hết sức cần thiết. Nhưng để việc này đưa lại hiệu quả thiết thực, chống thất thoát, lãng phí trong quá trình thực hiện rất cần có các phương án khoa học, cụ thể.

Lê Thiết Hùng