Chúng ta còn nhớ trận rét lịch sử đầu năm 2008, đã làm cho 200.000ha mạ và 180.000ha lúa bị chết, gây thiệt hại cho nhiều gia đình nông dân ở các địa phương miền Bắc.
Song, với tinh thần khắc phục khó khăn, cái khó không “bó” được ý chí, nghị lực của người nông dân. Từ trong gian khó ấy đã nảy ra sáng kiến, gieo mạ ở vùng ấm để cấy lúa ở vùng rét. Và trong năm 2009, một bộ phận nông dân ở Đại Lộc (Quảng Nam) đã mạnh dạn thực hiện ý tưởng này: Mạ được gieo khoảng 25 ngày tuổi, vừa hết đợt rét đậm, rét hại, được vận chuyển ngay ra để cấy ở các chân ruộng phía Bắc, kết quả cho thu hoạch hết sức khả quan. Năm nay, ý tưởng này tiếp tục được thực hiện ở xã Hòa Phong, huyện Hòa Vang (Đà Nẵng), với quy mô, quy trình kỹ thuật được thực hiện khoa học và nghiêm ngặt hơn, bảo đảm mạ đủ các tiêu chuẩn để cho năng suất cao.
 |
| Ảnh minh họa/internet. |
Cách làm này có hai cái lợi trước mắt. Lợi thứ nhất, không bị thiệt hại do mạ chết rét, bảo đảm việc gieo cấy đúng thời vụ, cây lúa phát triển tốt, tránh được sâu bệnh. Lợi thứ hai là, giải quyết được lao động nhàn rỗi ở địa phương, tăng thêm thu nhập cho người nông dân. Dù mới gieo mạ thí điểm ở một vài địa phương tại Quảng Nam và Đà Nẵng một vài vụ gần đây, song qua tính toán cho thấy, mạ gieo trên diện tích khoảng 2.500m2 đất, người nông dân có thu nhập ngày công là 100 nghìn đồng (!), đây là thu nhập khá đối với người nông dân trong lúc nông nhàn.
Tính toán phần lợi trước mắt là như vậy. Nhưng hiệu quả có tính lâu dài chính là lời giải của bài toán phát triển bền vững của nghề trồng lúa trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt của nông dân nước ta. Tất nhiên, để cách làm này mang lại hiệu quả cao, chủ động về nguồn giống chất lượng, bảo đảm an toàn một cách tuyệt đối cho cây mạ phát triển và cho năng suất cao, không thể không có sự hỗ trợ về khoa học kỹ thuật. Đã đến lúc các nhà khoa học cần vào cuộc, sát cánh cùng nông dân, để cách làm này trở thành một chiến lược đối phó với sự biến đổi của khí hậu, để nền nông nghiệp nước ta phát triển bền vững, vừa bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, vừa tăng lượng gạo hàng hóa xuất khẩu.
Theo đề xuất của chúng tôi, cần phải có một kế hoạch chi tiết, nghiên cứu thổ nhưỡng của từng địa phương. Vùng đất nào phù hợp với loại lúa gì; nếu thời tiết khắc nghiệt, cần bao nhiêu diện tích gieo mạ ở vùng ấm; thành lập các trại cung cấp mạ (tất nhiên các trại đó phải hội đủ các yếu tố khoa học-kỹ thuật, có sự “bảo lãnh” của khoa học) để cung ứng cho các địa phương... Chỉ có chủ động như vậy, người nông dân mới tránh được rủi ro, mới bảo đảm cho vụ thu hoạch thắng lợi.
Chúng ta đã có mô hình liên kết “bốn nhà” ở các lĩnh vực khác mang lại hiệu quả cho nông dân và cho đất nước nhưng trên thực tế trong nhiều trường hợp người nông dân vẫn cứ phải tự mò mẫm trong gian khó. Phải biến chủ trương liên kết bốn nhà thành những việc làm thật sự hiệu quả.
Đặng Trung Hội