Diễn đàn diễn ra trong bối cảnh Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) vừa chính thức có hiệu lực, dự báo sẽ có những chuyển biến về chính sách trong thời gian tới. Trong khi đó, thế giới đang chứng kiến sự phát triển công nghệ mạnh mẽ ở kỷ nguyên số hóa, kéo theo đó là những thay đổi trong phương thức kinh doanh trong nền kinh tế. Điều này đặt ra nhiều thách thức cho nhà quản lý ở Việt Nam, nhất là khi chúng ta vẫn còn áp dụng tư duy cũ để quản lý các hoạt động kinh doanh hiện tại, đòi hỏi phải cải cách để tạo động lực mới cho các hoạt động kinh doanh.   

Nhớ lại thời điểm 12 năm về trước, ngày 11-1-2007, khi các cam kết của Việt Nam với Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) chính thức có hiệu lực, kinh tế Việt Nam lần đầu tiên “ra biển lớn” còn nhiều bỡ ngỡ, nhưng làn sóng cải cách lúc đó đã kéo con tàu kinh tế Việt Nam tiến xa ngoạn mục, đặc biệt là kim ngạch xuất khẩu. Sau hơn 10 năm gia nhập WTO, Việt Nam đã có nhiều  kinh nghiệm và vốn liếng hội nhập. Thế nhưng WTO khác với CPTPP, bởi lẽ WTO là hội nhập theo chiều rộng (cam kết với tất cả các đối tác, mức độ mở cửa hạn chế) còn CPTPP là hội nhập theo chiều sâu (cam kết sâu, với một số đối tác).

Ảnh minh họa.

Nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng, sau đợt cải cách sâu rộng về thể chế khi gia nhập WTO, CPTPP sẽ là chất xúc tác cho một làn sóng cải cách mới. CPTPP chỉ chuyển hóa thành cơ hội, thành động lực khi chúng ta thực sự cải cách. Năm 2018 vừa qua, làn sóng cải cách mới đã được khởi động. Các cơ quan Nhà nước ở Trung ương đã ban hành 948 văn bản quy phạm pháp luật, trong đó có 16 luật và 18 nghị quyết của Quốc hội, 1 pháp lệnh của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, 169 nghị định của Chính phủ, 51 quyết định của Thủ tướng Chính phủ, 590 thông tư của các bộ... Đặc biệt, các phương án cắt giảm điều kiện đầu tư kinh doanh đã được chuyển hóa thành gần 30 nghị định trong nhiều lĩnh vực. Các bộ, ngành cũng đẩy mạnh ban hành các thông tư bãi bỏ và cắt giảm công tác kiểm tra chuyên ngành. Công tác cải cách thủ tục hành chính cũng được đẩy mạnh khi nhiều văn bản giảm về thành phần hồ sơ, thời gian làm thủ tục hoặc đẩy mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm… Tuy nhiên, theo báo cáo mới đây của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) thì vẫn còn có hiện tượng “trên nóng, dưới lạnh” trong tiến trình cải cách. Chính phủ tạo sức ép, nhưng nhiều nơi chưa thực tâm cải cách.

Trước một CPTPP đầy tiềm năng nhưng cũng tiềm ẩn không ít rủi ro, đòi hỏi các cơ quan chức năng của Nhà nước và từng doanh nghiệp phải thích ứng nhanh. Trước hết, cần tuyên truyền rộng rãi về CPTPP cho đội ngũ cán bộ công chức thực thi chính sách và cho doanh nghiệp. Cần khẩn trương sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật để thích ứng với CPTPP.  Kinh nghiệm 12 năm về trước, khi chúng ta gia nhập WTO, rất nhiều các văn bản, quy định đã được sửa đổi, mang lại những thay đổi về chất cho hệ thống chính sách pháp luật về kinh tế của Việt Nam. Thế nhưng vẫn có không ít trường hợp việc sửa đổi không đồng bộ dẫn tới những vướng mắc trong thực tiễn áp dụng, hoặc việc sửa đổi quá mạnh so với cam kết dẫn tới những thiệt thòi cho doanh nghiệp nội địa. Vì thế, theo ý kiến của nhiều doanh nhân Việt Nam, việc sửa đổi văn bản quy phạm pháp luật theo CPTPP cần theo đúng nguyên tắc vừa tuân thủ hiệp định, lại vừa có lợi nhất cho nền kinh tế, tránh được bẫy phân biệt đối xử ngược (đối xử với nhà đầu tư nước ngoài tốt hơn với nhà đầu tư trong nước). Để làm được điều này, từ góc độ thể chế, các doanh nghiệp cần chủ động tham gia sâu và hiệu quả vào quá trình các cơ quan Nhà nước nội luật hóa các cam kết CPTPP. Hành động thường xuyên và bền vững hơn, quan trọng hơn tất thảy vẫn là việc doanh nghiệp phải tập trung nâng cao năng lực cạnh tranh của mình, của sản phẩm hàng hóa dịch vụ mình cung cấp.

ĐỖ PHÚ THỌ