Có thể thấy, việc huy động đầu tư theo hình thức đối tác công tư (Public Private Partner-PPP) là một cách làm khả thi, phù hợp trong điều kiện, hoàn cảnh của nước ta hiện nay, khi mà nguồn lực tài chính công thì hạn chế nhưng nhu cầu đầu tư cho các dự án hạ tầng là rất cấp thiết, nếu không nhanh chóng phát triển hạ tầng thì đây sẽ là nút thắt cổ chai cho sự phát triển của đất nước. Đây cũng là một hình thức huy động vốn đầu tư mà nhiều nước trên thế giới đã áp dụng thành công. Trong hình thức này, Nhà nước và nhà đầu tư cùng phối hợp thực hiện dự án phát triển kết cấu hạ tầng, cung cấp dịch vụ công trên cơ sở hợp đồng dự án. Nhà đầu tư sẽ được thanh toán bằng việc thu phí dịch vụ hoặc được Nhà nước thanh toán bằng các hình thức khác, ví dụ như cấp đất. Theo Nghị định số 63/2018/NĐ-CP thì tại nước ta có các kiểu hợp đồng để thực hiện dự án PPP là: BOT, BTO, BT, BOO, BTL, BLT, O&M, rồi hợp đồng hỗn hợp. Mà trong đó hai hình thức hợp đồng được thực hiện phổ biến là BOT và BT.

Thế nhưng, thời gian qua, một số dự án BOT và BT phần nào gây ra các phản ứng, cái nhìn thiếu thiện cảm trong xã hội. Nguyên nhân chủ yếu là do các vấn đề lợi ích trong một số dự án BOT, BT chưa được làm rõ, chưa sòng phẳng, chưa phù hợp. Trong một số dự án BOT, mức thu phí của các nhà đầu tư được cho là quá cao, thời gian thu phí quá dài so với số tiền họ bỏ ra đầu tư, vị trí đặt trạm thu phí chưa phù hợp. Hay như trong một số dự án BT thì việc định giá đất công để trả cho nhà đầu tư được cho là ở mức quá thấp so với giá thị trường.

Ảnh minh họa/TTXVN.

Đối tượng có trách nhiệm và hưởng lợi trong các dự án PPP là Nhà nước, nhà đầu tư và cộng đồng xã hội. Mà suy cho cùng thì hai đối tượng hưởng lợi và phải có nghĩa vụ chính trong thực hiện hợp đồng là nhà đầu tư và cộng đồng xã hội, vì Nhà nước chỉ là đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân. Thế nhưng, nhà đầu tư và cộng đồng xã hội lại chưa tìm được tiếng nói chung. Hơn nữa, cả hai đối tượng này đều ở thế khá bị động trong các dự án PPP thời gian qua. Đó là vì trong các hợp đồng kinh tế thì các bên thực hiện hợp đồng phải có vị thế tương xứng để yêu cầu đối tác phải thực hiện nghiêm nội dung hợp đồng. Nhưng thời gian qua, khi thực hiện các dự án PPP, nhà đầu tư vẫn ở thế yếu hơn nhiều so với Nhà nước. Khi vì một lý do nào đó mà nội dung hợp đồng phải thay đổi thì nhà đầu tư thường chịu thiệt. Thực trạng này tạo ra sự e ngại cho nhà đầu tư. Cùng với đó, người dân vùng có dự án hay cộng đồng xã hội nói chung là một bên hưởng lợi và có nghĩa vụ chính trong việc thực hiện hợp đồng PPP thì lại chưa được tính tới nhiều trong các hợp đồng. Họ chưa được cung cấp đủ thông tin, chưa được tham vấn ý kiến về tính cần thiết của dự án, phương án thực hiện...

Đối với những vấn đề nêu trên thì Nghị định số 63/2018/NĐ-CP và trước đó là Nghị định số 15/2015/NĐ-CP chưa giải quyết được. Do đó, dự án Luật Đầu tư theo hình thức đối tác công tư được kỳ vọng sẽ giải quyết mấy yêu cầu chính là: Thứ nhất, bịt các kẽ hở gây thiệt hại tài sản công, thất thoát nguồn lực công. Thứ hai, có cơ chế ứng xử sòng phẳng, tôn trọng hợp đồng đã ký kết với nhà đầu tư theo nguyên tắc thị trường; tôn trọng quyền lợi và yêu cầu trách nhiệm của cộng đồng xã hội được hưởng lợi từ dự án. Thứ ba, có cơ chế bắt buộc minh bạch thông tin dự án để cộng đồng xã hội có thể nắm bắt, giám sát.  

Hợp đồng đối tác công tư là một dạng đầu tư có sự tham gia của nhiều bên, thậm chí là cả xã hội. Do đó, muốn thực hiện tốt được thì phải giải quyết tốt vấn đề lợi ích, tạo ra nhận thức đúng, sự đồng thuận.

HỒ QUANG PHƯƠNG