Sau một tháng thực hiện việc thanh tra giá thuốc, các đoàn thanh tra tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh đều đưa ra những kết luận trùng nhau: "Hiện tượng mua bán thuốc lòng vòng, qua quá nhiều khâu trung gian đã đẩy giá thuốc lên". Mức chênh lệch giữa giá thuốc mua vào và bán ra thông thường là 4 - 23%, cá biệt có mặt hàng chênh lệch 108%. Còn so với giá thuốc nhập, giá thuốc trên thị trường hiện cao hơn từ 20 đến 60%, thậm chí nhiều loại lên tới 20 đến 300%.
Thuốc chữa bệnh là mặt hàng mang nặng tính chất xã hội, vì thế, mức thuế đối với mặt hàng này được quy định rất thấp, thông thường chỉ 0-15%. Đây là điều hết sức hợp lý. Bởi lẽ, so với chuẩn của Liên hợp quốc, mức sống của đại bộ phận nhân dân ta còn thấp. Và đương nhiên, giá của đa số những mặt hàng thiết yếu phục vụ cuộc sống cũng nằm dưới mặt bằng chung của thế giới.
Vậy mà, trên thực tế, dù đã được hưởng mức thuế ưu đãi, nhưng giá thuốc tây nhập khẩu vẫn bị đẩy lên cao tới mức… Không chịu nổi.
Giá thuốc quá cao đã ảnh hưởng lớn tới việc chăm sóc sức khỏe của nhân dân. Thử hỏi, ai có thể thống kê nổi số người đành chịu chết, hoặc đành chấp nhận “sống chung” với bệnh tật vì không đủ tiền mua thuốc? Làm sao người ta có thể “ăn cơm nội”, chữa bệnh bằng thuốc có giá “siêu ngoại”?
Giá trị thực của dược phẩm là bao nhiêu? Người bình thường, dù không được tiếp xúc với hóa đơn nhập khẩu, không biết đến thuế nhập khẩu, chi phí vận chuyển… cũng có thể hiểu được phần nào. Đó là những khoản hoa hồng trả cho bác sĩ kê đơn, những chương trình chăm sóc đại lý rất chu đáo của các hãng dược phẩm… và đặc biệt là con đường lòng vòng của thuốc. Những chi phí ấy đánh vào giá thuốc. Và, bệnh nhân là những người phải gánh.
Sau "cơn bão" tăng giá thuốc ồ ạt vào năm 2003- 2004, Bộ Y tế đã chính thức được giao nhiệm vụ quản lý giá thuốc. Rất nhiều biện pháp bình ổn giá thuốc được đưa ra, song trên thực tế, thị trường thuốc vẫn biến động khôn lường. Đặc biệt, một số hãng thuốc nước ngoài đã tự ý tăng giá mà không cần hỏi ý kiến các cơ quan chức năng Việt Nam. Bởi lẽ ấy, giá thuốc nhập đã cao lại càng cao hơn.
Quản lý giá tân dược vốn không phải là việc khó. Cái khó hiện hữu là chế tài xử lý, khung hình phạt đối với những cơ sở kinh doanh mặt hàng này khi vi phạm quy định.
Đưa thuốc nhập khẩu về đúng giá trị thực của nó là việc cần phải làm tức thì nhằm bảo đảm quyền lợi của người bệnh. Tuy nhiên, cùng với đó phải thắt chặt hơn nữa giá thuốc sản xuất trong nước.
Còn một điều cuối cùng, đa số giá của thuốc nội luôn thấp hơn thuốc nhập khẩu. Trong khi, nhiều loại thuốc sản xuất trong nước đã bảo đảm được chất lượng tương đương thuốc ngoại. Tuy nhiên, vì tâm lý “chuộng ngoại”, vẫn còn rất nhiều người không quan tâm tới hàng nội. Nếu tâm lý này được giải quyết, số người sử dụng thuốc nội sẽ nhiều lên, sự phụ thuộc vào thuốc nhập khẩu giảm đi thì cũng là cơ hội cho ngành dược phẩm Việt Nam phát triển.
NGUYỄN MINH