QĐND - “Dở làng dở phố”, thấm thoắt câu nhận định này về quá trình đô thị hóa ở các huyện ngoại thành Hà Nội, nhất là các huyện ven đô đã trở nên cũ kỹ.
Sau khoảng hai chục năm, cơn lốc xây cất nhà cửa được gọi trong cái từ hiện đại mỹ miều là “đô thị hóa”, đến nay dường như đã hoàn thành với kết quả nhãn tiền: Làng không còn là làng, mà phố thì không ra phố. Không ai dám gọi đó là những khu đô thị. Đó chỉ là những khu dân cư bê-tông hóa chật chội, chen chúc, oi bức.
 |
| Cổng Xóm Nội, Thịnh Liệt, Hà Nội. Ảnh minh họa/internet. |
Hãy thử đến với một khu bất kỳ trong số đó. Con đường làng, con đường gánh gồng, đánh trâu xưa vốn nhỏ bé giờ bị xe máy ken dày xuôi ngược. Con đường ấy bị lút giữa những ngôi nhà, sáng chiều không có bóng nắng. Phía dưới con đường ấy là cống thoát nước. Phía trên, đường dây điện, điện thoại giằng kéo loằng ngoằng; nhiều nhà phơi quần áo ngoài hiên, nước rỏ xuống người đi đường. Nhiều ngõ nhỏ hơn, người nhà bên này có thể nói chuyện với nhà bên kia qua cửa sổ, hoặc với tay sang nhau… Một kiểu “phố làng” mà những nhà sử học vẫn gọi là “phố thời trung cổ” khi nhắc đến ký ức về các trung tâm buôn bán hình thành nhanh chóng thời tiền công nghiệp. Ở những khu này không có hè đường, không có công viên, bãi trống cho người lớn, trẻ nhỏ tập thể dục hay vui chơi. Nếu còn mảnh ao, thửa đất nào chưa kịp xây nhà thì chỗ đó thường xuyên bị biến thành bãi rác, bãi đổ trộm phế thải, nơi tập kết hàng; cũng lắm nơi là lò giết mổ lợn, gà…
Sự chen chúc, ngột ngạt của các “đô thị tự phát” làm cho quan hệ gia đình, làng xóm cũng biến đổi, nhà nhà có xu hướng co mình lại kín cổng cao tường, bức bối, khó chịu với nhau. Nếu đất cát ngày càng có giá thì hơn ở đâu hết, nơi này người ta giữ, tranh giành từng mẩu, từng mét, lắm khi mất cả tình cha con, anh em, họ hàng, láng giềng. Đô thị hóa tự phát diễn ra càng nóng, đội ngũ cán bộ càng dễ sa vào lộng hành, tha hóa.
Không khó để hiểu nguyên nhân của hiện tượng đô thị hóa tự phát. Nhu cầu kiếm sống, học hành, chữa bệnh đã đẩy việc tăng dân số cơ học lên đột biến tại Hà Nội, TP Hồ Chí Minh và một số thành phố, thị xã. Đây là một quá trình tập trung dân cư hầu như không có kiểm soát. Người từ các tỉnh xa đổ về mua đất, mua nhà, công nhân, lao động, sinh viên, học sinh thuê trọ giá rẻ, càng ít tiền thì càng chen chúc ăn ở. Trong khi đó, Nhà nước mấy chục năm qua chỉ có thể huy động các nguồn lực để xây dựng các khu đô thị mới, xây nhà ở cho người thu nhập thấp và mới tiến hành các bước quy hoạch chung, đại thể. Việc quy hoạch các vùng ven, các huyện, xã ngoại thành lâu nay cũng giống như mọi vùng nông thôn khác hầu như chưa được đầu tư, hướng dẫn bài bản.
Thật mừng là dẫu có muộn nhưng việc ra đời Nghị quyết Trung ương về nông nghiệp, nông dân và nông thôn, cùng các chủ trương, chính sách liên quan đến đô thị, rồi cuộc tổng điều tra về nông thôn, nông nghiệp và thủy sản bắt đầu triển khai, quy hoạch tổng thể phát triển Hà Nội được phê duyệt đã làm cho xã hội nhìn lại đúng về thực trạng đô thị hóa nói chung và đô thị hóa tự phát nói riêng, đồng thời vạch đường hướng cải tạo, phát triển. Đương nhiên việc tổ chức lại sản xuất, đời sống mọi mặt, quá trình đô thị hóa nông thôn là việc quá lớn và lâu dài nhưng bức tranh nhiều màu tối của hiện tượng đô thị hóa tự phát chắc chắn đã để lại những bài học cho các địa phương tránh lặp lại và khắc phục. "Nói phải củ cải cũng nghe", người dân vốn thường suy nghĩ và hành động theo lợi ích gần của họ nhưng thực tế đã chứng minh, người dân sẵn sàng nhường cơm sẻ áo, xẻ nhà, xẻ cửa nếu như họ thấy lợi ích chung là chính đáng, thiết thực, vì mình và vì mọi người, vì tiến bộ xã hội. Thực tế những năm qua đã có rất nhiều nơi trên đất nước ta bà con vô tư, nghĩa hiệp mà hiến đất làm trường, làm đường hay các công trình chung.
Quá trình đô thị hóa đúng nghĩa chính là quá trình thực hiện dựa vào dân, có các bước đi dân chủ, công khai, minh bạch. Đó cũng là quá trình xây dựng, rèn luyện đội ngũ cán bộ trong sáng, thực sự vì dân, biết vận dụng phương pháp làm việc khoa học, hiện đại.
MẠNH HÙNG