Tháng 9 này, thị trường tài chính-tiền tệ nước ta chứng kiến sự kiện quan trọng: Đó là việc hai ngân hàng 100% vốn nước ngoài đầu tiên đã được cấp phép hoạt động tại Việt Nam. Các ngân hàng trong nước cũng đua nhau mở các chi nhánh, điểm giao dịch mới. Tại Thành phố Hồ Chí Minh, theo thống kê mới nhất của Ngân hàng Nhà nước, bình quân mỗi phường có tới hai điểm giao dịch của ngân hàng. Có chuyên gia tài chính đã phát biểu rằng, ở Việt Nam lúc này, “ra ngõ gặp… ngân hàng”. Thế nhưng, ở bên kia bán cầu, cuối tuần qua, ngân hàng thứ 12 của Mỹ đã phải tuyên bố phá sản. Vậy việc bùng nổ ngân hàng tại Việt Nam lúc này có phù hợp với quy luật?

Cắt băng ra mắt Ngân hàng Liên Việt Hà Nội (ảnh internet)

Theo phân tích của các chuyên gia tài chính quốc tế, Việt Nam có số dân gần 87 triệu người, nhưng mới chỉ có khoảng 10% mở tài khoản tại ngân hàng. Việt Nam đang là thị trường đầy tiềm năng phát triển dịch vụ ngân hàng. Việc bùng nổ ngân hàng tại Việt Nam là tất yếu. Song, trước cánh cửa hội nhập ngày càng mở rộng, tiềm năng này không chỉ dành riêng cho các ngân hàng trong nước mà là cuộc cạnh tranh dữ dội giữa các ngân hàng trong nước với nhau và các ngân hàng nội với ngân hàng ngoại. Đã có ý kiến lo ngại rằng, với trình độ quản lý và kinh nghiệm lâu năm, các ngân hàng nước ngoài đang có rất nhiều ưu thế trong mở rộng thị phần thông qua việc cấp tín dụng với các điều kiện ưu đãi hơn về lãi suất nhờ được sử dụng nguồn vốn rẻ từ ngân hàng mẹ chuyển sang. Nhưng, ngân hàng trong nước lại có lợi thế am hiểu rất rõ về pháp luật, môi trường kinh doanh ở Việt Nam. Các ngân hàng Việt Nam cũng đã dần hoạt động theo thông lệ quốc tế. Như vậy, không phải khi ngân hàng nước ngoài vào là hệ thống ngân hàng Việt Nam bị triệt tiêu mà sẽ trở thành động lực để ngân hàng trong nước nâng cao khả năng cạnh tranh của mình. Tuy nhiên, nếu các ngân hàng trong nước vẫn duy trì chất lượng như hiện nay thì thị phần sẽ bị thu hẹp. Ngân hàng nội cần phải tăng cường khả năng cạnh tranh bằng dịch vụ, đồng thời có biện pháp hữu hiệu quản lý và phòng tránh rủi ro.

Hiện tại, Việt Nam không thiếu số lượng ngân hàng, mà chỉ thiếu những sản phẩm ngân hàng đáp ứng nhu cầu đa dạng của người dân. Việc có thêm nhiều ngân hàng không giúp xã hội tăng thêm nguồn vốn vì bản thân ngân hàng không “đẻ” ra vốn và “giá trị thặng dư” cho nền kinh tế. Không những thế, nếu có quá nhiều ngân hàng sẽ khó kiểm soát được rủi ro. Nhưng nếu thiếu ngân hàng thì sẽ gây khó khăn lớn cho quá trình vận động của nền kinh tế thị trường. Chính vì thế, dư luận mong muốn, các cơ quan chức năng của Nhà nước cần phải xem xét kỹ các điều kiện cần và đủ để được cấp phép thành lập ngân hàng mới (kể cả ngân hàng nội và ngoại) sao cho thật sự minh bạch, thật sự chặt chẽ. Các ngân hàng phải nâng cao khả năng cạnh tranh trong môi trường hội nhập kinh tế quốc tế.

ĐỖ PHÚ THỌ