QĐND Online– Trong những tháng cuối năm 2010, doanh nghiệp trong nước đang chịu những tổn thất nặng nề từ sự biến động mạnh và dường như không thể dự báo của tỉ giá giữa đồng đô là Mỹ (USD) và đồng nội tệ. Trong khi đó, các nhà hoạch định chính sách cùng với cơ quan quản lí thị trường tiền tệ lại dường như chưa “bắt” được “bệnh” và do đó cũng chưa đưa ra được phác đồ điều trị khả dĩ để giúp thị trường tiền tệ chóng “khoẻ” trở lại.
 |
|
Ảnh minh họa/Internet
|
Tình trạng khan hiếm ngoại tệ vào dịp cuối năm không phải là chuyện gì mới mẻ, chỉ có điều “cơn sốt” USD năm nay chứa đựng nhiều yếu tố bất bình thường. Cuối năm là thời điểm doanh nghiệp phải thanh toán các hợp đồng nhập khẩu cho đối tác nước ngoài. Với một nền kinh tế phát triển thiếu đồng bộ như nước ta, phần lớn doanh nghiệp từ sản xuất, chế biến đến kinh doanh, dịch vụ, xuất, nhập khẩu… đều phải trực tiếp hay gián tiếp sử dụng nguồn nguyên, nhiên liệu nhập khẩu. Hiện nay, đồng USD được sử dụng chủ yếu trong thanh toán thương mại quốc tế. Chính vì vậy, sự ổn định của tỉ giá đồng USD góp phần quyết định đến sự thành công hay thất bại trong sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
Trong năm 2010, đã có thời gian tỉ giá giữa đồng USD và tiền đồng Việt Nam niêm yết tại các ngân hàng cao hơn so với thị trường tự do và trong suốt hầu hết năm, tỉ giá được duy trì tương đối ổn định mặc dù Ngân hàng Nhà nước có điều chỉnh tăng vài lần. Tuy nhiên, kể từ cuối tháng 9, tỉ giá đồng USD trên thị trường tự do liên tục tăng và hiện đang dao động ở mức 21.500 đồng/1 USD, tăng gần 10% so với tháng 9.
Theo các nhà phân tích tài chính, việc đồng USD tăng giá là do chu kì giảm giá của tiền đồng, lượng đầu tư trực tiếp, gián tiếp vào Việt Nam giảm… Nhưng nhiều người cũng đồ rằng chính các ngân hàng thương mại (NHTM) cũng là “tác nhân” gây ra “cơn sốt” ảo này.
Nhiều doanh nghiệp than phiền rằng khi đến mua USD tại các ngân hàng thương mại (NHTM) thì hoặc được trả lời “đã hết” hoặc phải trả thêm nhiều loại chí phí “phát sinh” và kết quả là giá mua USD tại ngân hàng cũng tương đương như ở thị trường tự do. Người ta còn ngờ rằng một số NHTM đóng vai trò là “đối tác” của những kẻ đầu cơ USD “cỡ bự”. Chính vì vậy mới có chuyện khi doanh nghiệp đến ngân hàng mua một lượng lớn USD, ngân hàng trả lời không có nhưng sẵn sàng đi lấy “hộ” cho doanh nghiệp với giá cao. Biết không thể trông cậy vào các NHTM, một số doanh nghiệp ra thẳng thị trường tự do, cắn răng mất thêm khoảng 2,000 đồng cho mỗi USD, nhưng đổi lại họ đỡ mất thời gian. Một CEO có tiếng tại Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng, thị trường tỉ giá đầy biến động như hiện nay giúp các NHTM kiếm được nhiều lợi, còn doanh nghiệp thì đang chịu nhiều thua thiệt. Thậm chí, có doanh nghiệp đang phải đối mặt với nguy cơ phá sản hoặc tạm thời ngừng sản xuất do không đủ khả năng thanh toán hợp đồng với đối tác.
Nếu tình trạng này không sớm được khắc phục thì không những thị trường tiền tệ sẽ tiếp tục xấu đi mà nền kinh tế cũng sẽ bị ảnh hưởng tiêu cực do giảm đầu tư, chi phí đầu vào cho sản xuất tăng, giá cả leo thang và lạm phát. Doanh nghiệp trong nước vừa gượng dậy sau những ảnh hưởng từ suy thoái toàn cầu sẽ lại hụt hơi một lần nữa.
Mặc dù với chức năng chính là kinh doanh tiền tệ, nếu các NHTM “găm” USD không bán cho doanh nghiệp để bán ra chợ “đen”, hoặc tiếp tay cho những kẻ đầu cơ là việc làm sai quy định. Hơn nữa, các NHTM đều nằm trong hệ thống ngân hàng cũng có phần trách nhiệm bình ổn thị trường tiền tệ, điều tiết tỉ giá, hỗ trợ doanh nghiệp trong thanh toán quốc tế. Đặc biệt, Ngân hàng Nhà nước với vai trò chủ đạo phải đề ra những chính sách, tiến hành những biện pháp mạnh tay hơn đối với việc kinh doanh ngoại tệ của các NHTM và bảo đảm lượng ngoại tệ bán cho các NHTM đến đúng những doanh nghiệp có nhu cầu chính đáng. Cùng với hệ thống ngân hàng, Bộ tài chính và các ban ngành liên quan cũng cần có những chính sách nhằm thu hẹp khoảng cách, dần xoá bỏ sự khác biệt về tỉ giá giữa ngân hang và thị trường tự do. Có như vậy doanh nghiệp mới yên tâm đầu tư, sản xuất và kinh doanh.
Thu Hùng