* Đồng chí Nguyễn Thiện Nhân, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam 

Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Đồng chí Nguyễn Thiện Nhân, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam.

Đại đoàn kết toàn dân tộc là truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc ta, được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước. Nhờ sức mạnh đại đoàn kết, nhân dân ta đã đánh bại những kẻ xâm lược tàn bạo, lập nên những chiến thắng lừng lẫy; đồng thời chế ngự thiên nhiên, phát triển kinh tế, xã hội; xây dựng các công trình văn hóa có giá trị lịch sử, mang ý nghĩa dân tộc và thời đại sâu sắc.

Từ khi có Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo cách mạng Việt Nam đến nay, sức mạnh đại đoàn kết của dân tộc ta được phát huy ngày càng cao hơn bởi có sự kết hợp nhuần nhuyễn những truyền thống quý báu của dân tộc và sự định hướng khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về quy luật phát triển của loài người và tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc. Củng cố và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc là một nội dung quan trọng trong đường lối cách mạng của Đảng hơn 85 năm qua. Báo cáo Chính trị của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII đã khẳng định: “Đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam, là động lực và nguồn lực to lớn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Những bài học kinh nghiệm về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc cần được kế thừa và phát huy mạnh mẽ trong phát triển kinh tế, xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh hiện nay.

Để phát huy mạnh mẽ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và tham gia xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh trong giai đoạn hiện nay, Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam và các tổ chức thành viên cần nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, bồi dưỡng và phát huy lòng yêu nước, tự hào dân tộc, truyền thống uống nước nhớ nguồn, nhân nghĩa, khoan dung và ý thức về sức mạnh đại đoàn kết trong quá trình phát triển đất nước. MTTQ Việt Nam và các tổ chức thành viên tích cực tuyên truyền, tổ chức học tập Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII và các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế-xã hội giai đoạn hiện nay, để tạo sự đồng thuận cao của nhân dân đối với con đường phát triển của đất nước và sự lãnh đạo của Đảng. MTTQ Việt Nam tích cực đóng góp vào việc tham gia xây dựng và cụ thể hóa các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước để phát huy đầy đủ các lợi thế quốc gia, nhất là lợi thế về con người Việt Nam, tận dụng mọi thời cơ của giai đoạn hội nhập mới và ứng phó chủ động, hiệu quả với các thách thức, đồng thời bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các tầng lớp nhân dân, trong đó có các dân tộc, tôn giáo, đồng bào Việt Nam ở nước ngoài.

Tổ chức có hiệu quả các cuộc vận động, phong trào của MTTQ Việt Nam và các tổ chức thành viên, làm cho đại đoàn kết trở thành động lực, nguồn lực tinh thần và vật chất to lớn của đất nước để phát triển nhanh hơn, bền vững hơn. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với MTTQ Việt Nam và các tổ chức thành viên như Báo cáo Chính trị tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII đã khẳng định: “Quy định rõ hơn Đảng phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình”. MTTQ Việt Nam nguyện làm tốt vai trò cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, thực hiện sáng tạo, hiệu quả chức năng giám sát và phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam và các tổ chức thành viên...

MINH ĐĂNG (lược trích)

* Đồng chí Phạm Thị Hải Chuyền, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội

Thực hiện tốt an sinh xã hội là điều kiện quan trọng để phát triển kinh tế

Bảo đảm an sinh xã hội là chủ trương nhất quán và xuyên suốt của Đảng trong quá trình lãnh đạo đất nước, là chính sách cơ bản để giảm nghèo, bảo đảm đời sống của nhân dân, thực hiện công bằng, tạo sự đồng thuận xã hội, góp phần giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, củng cố và tăng cường quốc phòng, an ninh. 

Đồng chí Phạm Thị Hải Chuyền, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội. 

Trong những năm qua, mặc dù nền kinh tế trong nước gặp nhiều khó khăn, Đảng và Nhà nước vẫn dành sự quan tâm đặc biệt đối với các chính sách xã hội. Giai đoạn 2012-2015 đã có sự thay đổi mạnh mẽ trong xây dựng và tổ chức thực hiện các chính sách xã hội của nước ta. Hệ thống chính sách, pháp luật tiếp tục mở rộng hơn quyền hưởng và mức hưởng các chế độ ưu đãi xã hội và an sinh xã hội cho người dân, đặc biệt trong lĩnh vực việc làm, tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp. Thể chế hóa quan điểm của Đảng và thực hiện Hiến pháp năm 2013, việc bảo đảm an sinh xã hội cho mọi người dân được thực hiện đồng bộ, thông qua tăng cường phát triển việc làm, mở rộng sự tham gia vào hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, cải cách chính sách trợ giúp xã hội và giảm nghèo bền vững. Các chế độ, chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng được thực hiện tốt, đời sống người có công được nâng lên. Năm 2015, cả nước có 52,9 triệu người có việc làm. Chuyển dịch cơ cấu việc làm theo ngành kinh tế có chuyển biến tích cực, tỷ lệ lao động làm việc trong khu vực nông nghiệp giảm, năm 2015 còn 44,3% (giảm 4,4% so với năm 2010). Có gần 2,7 triệu đối tượng hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng tại cộng đồng (xấp xỉ 3% dân số); có 408 cơ sở trợ giúp xã hội được thành lập, đã tiếp nhận, nuôi dưỡng, chăm sóc hơn 41.450 đối tượng bảo trợ xã hội; tỷ lệ nghèo theo chuẩn quốc gia còn dưới 4,5%...


Thực hiện tốt an sinh xã hội là điều kiện quan trọng để phát triển kinh tế. Để tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội phù hợp với quá trình phát triển kinh tế trong giai đoạn tới, cần tiếp tục cải cách thể chế kinh tế, cải cách doanh nghiệp Nhà nước, bảo đảm có nhiều việc làm hơn cho người lao động; tập trung thực hiện Nghị quyết số 15-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) “Một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020” đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế. Đồng thời, cần quán triệt, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cộng đồng, đặc biệt là các nhóm yếu thế trong việc chủ động vươn lên xóa đói giảm nghèo; tiếp tục rà soát, đánh giá các chính sách an sinh xã hội trên từng lĩnh vực để hoàn thiện, sửa đổi và bổ sung theo hướng tinh gọn, tích hợp chính sách, thu gọn đầu mối quản lý; hoàn thiện chương trình đào tạo nghề cho nông dân nông thôn; tiếp tục mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội...

NGUYỄN SINH  (lược trích)

* Đồng chí Nguyễn Đức Chung, Phó bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND TP Hà Nội 

Nắm vững chủ trương, tiến hành đồng bộ các giải pháp phát triển kinh tế

Để kinh tế thị trường định hướng XHCN đi vào cuộc sống, vấn đề mấu chốt là phải hoàn thiện thể chế, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và chịu tác động sâu sắc, nhiều chiều đến mọi mặt của đời sống xã hội. Là Thủ đô-trái tim của cả nước, có truyền thống ngàn năm văn hiến, Hà Nội luôn có trách nhiệm cao trong việc chủ động nhận thức, tiên phong thực hiện, vận dụng sáng tạo, từng bước tháo gỡ khó khăn vướng mắc, phát huy các tiềm năng thế mạnh, huy động các nguồn lực trong và ngoài nước để xây dựng thành công kinh tế thị trường định hướng XHCN trên địa bàn Thủ đô.
Đồng chí Nguyễn Đức Chung, Phó bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND TP Hà Nội .

 

Đảng bộ Hà Nội xác định phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN vừa phải tuân theo những quy luật của kinh tế thị trường, vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của CNXH. Phát triển kinh tế phải dựa trên các thiết chế, công cụ và nguyên tắc vận hành kinh tế thị trường để giải phóng sức sản xuất, phát huy mọi nguồn lực để đẩy mạnh CNH, HĐH Thủ đô; nhưng đồng thời phải đi đôi với phát triển văn hóa, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội; hội nhập quốc tế phải gắn liền với độc lập dân tộc, giữ vững ổn định chính trị và quốc phòng-an ninh, tất cả vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Trong quá trình tổ chức thực hiện, Hà Nội đã vận dụng sáng tạo kinh tế thị trường thông qua thực hiện các giải pháp phát triển đồng bộ, vững chắc các loại thị trường, trong đó sớm hình thành một số thị trường mới. Chủ động đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng kết hợp hiệu quả giữa phát triển chiều rộng với chiều sâu, chú trọng phát triển chiều sâu, nâng cao chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh của kinh tế Thủ đô. Nhờ sự vận dụng sáng tạo đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN phù hợp với đặc thù của Thủ đô, cơ cấu kinh tế của Hà Nội có sự chuyển biến tích cực, kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội được cải thiện đồng bộ và hiện đại hơn; tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) có sự tăng trưởng vượt bậc sau 30 năm đổi mới: GRDP tăng từ 4,48% giai đoạn đầu đổi mới (1986-1990) lên 9,3% giai đoạn 2009-2015; GRDP đầu người năm 2015 tăng gấp 6,4 lần so với năm 1990; vị thế, uy tín Thủ đô ngày càng được nâng cao.

Để phát triển thành công kinh tế thị trường định hướng XHCN trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, việc hoàn thiện thể chế là điều kiện tiên quyết, hết sức quan trọng. Thời gian tới Đảng, Nhà nước cần rà soát lại mô hình tổng quát phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN của nước ta cho phù hợp với yêu cầu hội nhập sâu rộng của đất nước. Tiến hành rà soát và có lộ trình điều chỉnh, bổ sung các chính sách, pháp luật và văn bản hướng dẫn có liên quan về phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, nhất là về chế độ sở hữu, phân phối và lưu thông hàng hóa, bảo đảm tính đồng bộ, không chồng chéo, phù hợp các quy định của Hiến pháp, các văn bản pháp luật và điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết, tham gia. Bên cạnh việc vận dụng thống nhất, đồng bộ và hiệu quả thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN trong cả nước, cần tính đến các đặc thù của từng vùng, từng địa phương...

NGUYỄN ĐẠT (lược trích)

* Đồng chí Nguyễn Thành Phong, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND Thành phố Hồ Chí Minh

Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, nâng cao chất lượng tăng trưởng

Đoàn đại biểu Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh nhất trí cao với những mục tiêu và giải pháp nhằm tiếp tục đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, hiệu quả và sức cạnh tranh được đề ra trong các Văn kiện trình Đại hội XII. Chúng tôi xin nhấn mạnh và đề xuất các giải pháp về nâng cao chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh.


Đồng chí Nguyễn Thành Phong, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND Thành phố Hồ Chí Minh.

Đảng cần lãnh đạo hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, coi đó là nội dung cốt lõi nhất để thúc đẩy nâng cao chất lượng tăng trưởng. Sự chuyển hướng ưu tiên cho chất lượng tăng trưởng sẽ tập trung vào sử dụng toàn diện và hiệu quả các nguồn lực, bảo đảm an sinh xã hội và các khuôn khổ thể chế cho một nền tảng quản trị tốt. Các giải pháp nâng cao chất lượng tăng trưởng rất đa dạng, bao quát trên nhiều khía cạnh, từ nâng cao sự đóng góp của khoa học công nghệ đến chất lượng nguồn nhân lực; từ phát triển các ngành có giá trị gia tăng cao đến phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng, đầu tư cho giáo dục, y tế, văn hóa và an sinh xã hội; từ giữ vững tốc độ tăng trưởng cao và bền vững đến bảo đảm các chỉ tiêu về chất lượng cuộc sống, chăm lo đời sống nhân dân. Các giải pháp về nâng cao chất lượng tăng trưởng phải khơi thông các tắc nghẽn trong cơ chế ngành và liên ngành, hình thành những động cơ khuyến khích, tích hợp các chiến lược sử dụng hiệu quả và huy động các nguồn lực trong xã hội.


Quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN cần tạo đột phá trong cải cách hành chính và tài chính công; quy định minh bạch ba cơ chế về phân quyền, phân cấp và ủy quyền cho địa phương; đồng thời tạo cơ chế để tăng cường hiệu lực kiểm tra, thanh tra của Chính phủ đối với chính quyền địa phương; trong đó nghiên cứu tập trung hơn nữa vào các nhiệm vụ gồm: Hoạch định chính sách, ban hành các quy định và kiểm tra, giám sát, chế tài vi phạm. Phát huy vai trò động lực của các đô thị để nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng lực cạnh tranh. Động lực cho chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế nằm ở các vùng kinh tế trọng điểm, trong đó có các đô thị. Nâng cao năng suất lao động, tích tụ và lan tỏa tri thức là tác nhân quan trọng nâng cao chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh. Tiếp tục đẩy mạnh đổi mới chính sách để khoa học và công nghệ thực sự là quốc sách hàng đầu, là động lực quan trọng nhất để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, kinh tế tri thức, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Nâng cao năng suất thông qua hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ và máy móc thiết bị, phát triển các kết nối giữa các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài và doanh nghiệp tại địa phương, nâng cao chất lượng quản trị của các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Sử dụng hiệu quả công cụ chính sách kinh tế- tài chính để thúc đẩy quá trình tái cấu trúc nội bộ các ngành kinh tế; tiếp tục đổi mới các chính sách về thuế, phí đất đai, đầu tư công, cung ứng dịch vụ công... nhằm khuyến khích có điều kiện để thúc đẩy các doanh nghiệp tăng tỷ lệ nội địa hóa sản phẩm và hình thành những “cụm liên kết sản xuất”...

BÍCH NGỌC (lược trích)