Ông Nguyễn Văn Dò và bà Bùi Thị Khê gặp nhau tại Trung tâm phục hồi chức năng tâm thần tỉnh Ninh Bình.

Vào một chiều tháng 6-1959, có một anh bộ đội quê miền Nam vừa xuống xe khách ở nam cầu Ròn (Quảng Trạch - Quảng Bình) thì gặp một cô gái đi bán dạo cá kho. Anh cất tiếng hỏi:

- Này, chị ơi, lối về…

Người con gái làng biển vừa trở vai đôi quang gánh, lỉnh kỉnh những xoong, thau thơm mùi cá mắm, vừa vui vẻ tiếp lời:

- Về Cảnh Dương phải không?

- Vâng!

- Thế thì theo tui. Mà anh đi tìm o mô rứa? Tui vẽ (bày) cho! - Tôi về đó tìm bạn đồng hương ở Tập đoàn đánh cá miền Nam Quảng Ngãi. Mà chị đi bán thứ gì về đó, để tôi gánh giúp cho.

Cô gái tươi cười:

- Bán cá kho! Anh có biết “cá kho một vốn bốn lời/ Đi về bỏ vợ mà lấy người cá kho”.

Rồi cô gái cười thú vị với nỗi tự hào kín đáo.

Cuộc gặp gỡ đầu tiên giữa trung sĩ Nguyễn Văn Dò và cô gái làng biển Cảnh Dương Bùi Thị Khê ấy là sự mở đầu cho một cuộc tình duyên theo trào lưu thời thượng bấy giờ: Lấy chồng bộ đội là tiên/ Áo xanh mũ lưới càng duyên cuộc đời.

Chuyến nghỉ phép lần đó kết thúc sau 15 ngày ngắn ngủi. Bạn đồng hương Nguyễn Văn Dò là Nguyễn Văn Tào, cán bộ miền Nam tập kết, theo chủ trương của Đảng và Nhà nước về đây cùng nhiều anh chị em của quê hương Quảng Ngãi, thành lập Tập đoàn đánh cá miền Nam, làm “ông tơ” xe duyên cho họ. Vào kỳ nghỉ phép năm sau, Nguyễn Văn Dò báo cáo đơn vị làm lễ cưới. Sau 10 ngày sống bên vợ, Nguyễn Văn Dò trở lại đơn vị ở Tuyên Quang. Anh không ngờ rằng, đó là chuyến nghỉ phép cuối cùng để sau đó hành quân vào chiến trường miền Nam. Và người vợ nhỏ nơi hậu phương của anh đã sinh cho anh một cô con gái chưa một lần gặp bố.

Bà Bùi Thị Khê năm nay tròn 73 tuổi, khi thuật lại cho tôi mối tình trong quá khứ của mình, vẫn còn háo hức khi kể về giây phút hạnh phúc nhất đời mình:

- Khi ấy anh Dò nắm chặt tay tôi. Chúng tôi hướng mặt ra phía biển, cùng nói lời thề ước trăm năm…

Chia tay người vợ trẻ, trở lại chiến trường, Dò gửi cho vợ được ba lá thư. Lá thư thứ hai cách lá thư đầu 3 tháng. 5 tháng sau, chị Khê mới nhận được lá thư thứ ba. Thư đề: “Vĩnh Linh, ngày 21-1-1962…”. Và rồi cũng từ đó bà bặt tin chồng. Tháng 2-1965, Mỹ giội lửa xuống Quảng Bình, Vĩnh Linh. Theo chủ trương của Tỉnh ủy Quảng Bình, dưới chân Đèo Ngang, làng 19-5, thuộc xã Quảng Đông, huyện Quảng Trạch được thành lập. Đó là làng mới của người Cảnh Dương đi sơ tán. Bà Nguyễn Thị Khê cùng con gái, là một trong những người đầu tiên lên tạo lập cuộc sống trên vùng đất mới này.

Năm 1975, cả nước thống nhất, đợi mãi không có tin tức gì của chồng, bà Khê tìm đến tỉnh đội, Sở Lao động-Thương binh-Xã hội tỉnh Quảng Bình hỏi tin tức chồng, nhưng nơi nào cũng trả lời: “Không biết!”.

Nỗi thương đau, nhớ nhung âm thầm da diết đeo đẳng bà suốt 23 năm. Mãi đến sáng 5-10-1998, bà Nguyễn Thị Bảo, cô ruột của bà Bùi Thị Khê, từ làng Cảnh Dương thuê xe lên, chìa một lá thư, reo lên:

- Này, đi mà đón thằng Dò về, hắn còn sống đây này!

Thực hay là chiêm bao? Bà Bùi Thị Khê khuỵu xuống, ôm chặt lá thư mà khóc như con trẻ. 38 năm ấy bây giờ là đây!… Còn bà Nguyễn Thị Bảo thì không quên giải thích với cháu của mình:

- Lá thư này người ta gửi cho mày đã lâu rồi, nằm ở hộp thư UBND xã Cảnh Dương. Nghe nói đây là lá thư thứ ba. Những nhân viên của ủy ban không ai biết tên của mày. Họ đã đánh mũi tên trả thư lại nơi gửi. Nơi gửi lại cứ gửi tiếp vào. May mà tao đến ủy ban xin đóng cái dấu khai sinh cho thằng cháu, thấy thư, biết là của mày, nên tao cầm lên đây cho mày đấy!

Bà Bùi Thị Khê kể đến đó thì mở cái hộp sắt nhỏ đặt ngay lên đầu giường, đưa cho tôi xem lá thư mà bà cất giữ đã gần 10 năm nay. Đó là lá thư của “Trung tâm phục hồi chức năng tâm thần” ở Hoàng Long, Nho Quan, Ninh Bình, do Giám đốc Trung tâm, đại tá bác sĩ Nguyễn Ngọc Tình ký. Thư báo tin: “Nguyễn Văn Dò, thương binh 1/3 (cũ) mất sức 81%, quê quán: xã Bình Đồng, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Nhập ngũ tháng 6-1952, bị thương ở chiến trường B, chuyển ra điều trị ở Quân y viện 103 từ tháng 4-1962 và về Trung tâm phục hồi chức năng tâm thần Ninh Bình tháng 8-1965, với căn bệnh “Tâm thần phân liệt”. Mong gia đình có mặt để nhận người thân”.

Ở chốn quê nghèo này làm sao có một số tiền lớn để đi thăm chồng? Bà Khê liền bán ngay con bò duy nhất rồi cùng người con rể là anh Võ Tiến đón xe ra đúng địa chỉ trong thư báo tin.

Cuộc hội ngộ sau 38 năm mới cảm động và bi đát làm sao! Bà Bùi Thị Khê nhận ra chồng ngay từ phút đầu, khi người ta dẫn anh Nguyễn Văn Dò từ phòng ra. Bà ôm lấy ông nghẹn ngào, nức nở. Còn ông Nguyễn Văn Dò thì cứ ngây ngây, ngô ngô. Các bác sĩ kể bà mới biết, một quả bom Mỹ quái ác nổ gần, gây chấn thương, đã làm cho chồng bà bị chấn thương nặng và ngay sau đó lập tức không nói, không cười, không khóc được. Mọi người đều lau nước mắt trước cảnh tượng của một cuộc trùng phùng kỳ ngộ. Đại tá, bác sĩ Giám đốc Trung tâm Nguyễn Ngọc Tình đã giải thích cho bà Bùi Thị Khê biết, thương binh Nguyễn Văn Dò được Trung tâm điều trị và nuôi dưỡng ở đây từ lâu. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, theo hồ sơ chuyển viện hiện có, Trung tâm đã gửi công văn về quê ông ở Quảng Ngãi, nhưng chính quyền địa phương không biết ông ấy là ai mà tìm người nhà để phúc đáp. Bỗng một hôm, một y tá tình cờ phát hiện trong ba lô cũ của ông Dò trong kho hiện vật, có một cái giấy đăng ký kết hôn đã nhàu nát có tên ông nên Trung tâm mới gửi được giấy báo tin tới bà.

Bà Bùi Thị Khê kéo vạt áo lau nước mắt nói:

- Có đứa con gái cũng mất rồi. Nó qua đời một năm trước khi tôi nhận được “giấy báo… sống” của ông ấy. Nó đẻ lần thứ năm mà lại đẻ sinh đôi. Bệnh viện huyện chỉ cứu được một con. Chồng nó, 2 năm sau đi lấy vợ. Không hiểu sao, 5 đứa cháu ngoại không chịu ở với bố và dì, lại cứ chạy về ở với tôi, mặc dầu tôi chỉ làm thuê, kiếm củi, dũi ngao ngoài biển bán để kiếm sống.

Sau ngày tìm được chồng, bà vẫn dành dụm tiền để mỗi năm ra thăm chồng được vài lần. Đến đầu năm 2000, chồng bà bị ngã, chấn thương sọ não rất nặng. Lại một lần nữa nỗi đau dội lên tấm thân bé nhỏ của bà. Bà nghèo nên đành viết thư báo tin cho người bạn cũ năm xưa của chồng là ông Nguyễn Văn Tào hiện ở số nhà 80, đường 31-3, khu vực 2, phường Hải Cảng, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định, để nhờ giúp đỡ. Ông Nguyễn Văn Tào đã tìm ra người cháu ruột của ông Nguyễn Văn Dò là anh Nguyễn Văn Lợi. Theo nguyện vọng và tập quán của gia đình, họ hàng, địa phương, anh Lợi xin đưa cậu về quê để chăm sóc, lo toan, nếu ông qua đời. Ngày 6-2-2007, chồng bà trút hơi thở cuối cùng, yên nghỉ nơi mảnh đất chôn rau cắt rốn sau 48 năm đi đánh giặc.

Từ Quảng Bình xa xôi, sau 40 năm lấy chồng, lần đầu tiên bà mới tìm được về quê ông và công việc đầu tiên là vấn lên đầu vành khăn trắng chịu tang chồng…

Sau này, Trung tâm phục hồi chức năng tâm thần Ninh Bình đã phối hợp với Sở Lao động-Thương binh-Xã hội Quảng Bình chuyển chế độ trợ cấp thương binh của ông về cho bà. Những đồng tiền ấy, bà Khê gom góp cất dựng được một ngôi nhà ngói cấp 4, rộng 20m2, làm nơi thờ cúng ông. Ngày ngày, cả 6 bà cháu vẫn sống bằng những đồng tiền đi kiếm củi, dũi ngao….

Tôi chia tay bà Khê trong buổi chiều nhạt nắng. Bà tiễn tôi ra tận đường cái, đứng mãi cho đến khi xe tôi xa dần. Tự nhiên, trong tôi hiện lên sừng sững hình ảnh của một vọng phu. Nhưng là một vọng phu có da, có thịt, vọng phu không hóa đá.

Ôi cuộc đời này, đất nước này, có bao nhiêu câu chuyện ly kỳ cảm động làm sao!

Bài và ảnh: HÀ HƯƠNG