Những chiếc xe thời hiện đại, ban đầu chạy bằng bánh sắt. Mãi đến sau này, các nhà khoa học mới phát minh ra bánh lốp. Lốp ô tô làm bằng nhựa cao su. Hồi ấy, cây cho ra mủ cao su còn là một thứ cây hoang dại. Dân bản xứ sống với nó, vui buồn với nó, đi săn, đi hái dưới vòm lá hoang dã xanh rờn êm ả của nó. Họ không biết rằng những giọt màu trắng sữa trong thân thể thứ cây hoang dại kia có thể làm ra nhựa.

Người dân Bôe miền cực nam châu Phi bịt bùng trong ngu muội, không biết sự phát minh vĩ đại đó và càng không thể dự báo, cái dòng nhựa màu sữa kia lại là nguyên nhân làm chảy tràn trề máu đỏ, nóng hổi, đầm đìa đổ xuống trên lớp lá mục phủ dày những cánh rừng cao su bạt ngàn của họ.

Đế quốc Anh xâm lược Bôe để chiếm đoạt cao su và bao nhiêu thứ quặng, quặng vàng, còn vùi sâu trong lòng đất. Bọn cai trị giàu sang và độc ác, có cái tên gọi chung là đế quốc thực dân, nhìn rừng cao su mà hừng hực nhận ra hình dáng những đồng tiền vàng óng ánh.

Sử sách chép rằng: để thỏa mãn được lòng tham, bọn lính đế quốc Anh đã nổi lửa đốt người Bôe. Người Bôe đã dùng màu xanh ngụy trang thân thể và vũ khí, mai phục lẫn trong lớp rừng nguyên sơ không có lối đi. Bọn lính Anh, trang phục màu đỏ tươi, phô trương quyền uy của vũ lực, đã trở thành những tấm bia sống cho người Bôe nhắm bắn. Ban đầu, quân Anh nếm mùi thất bại. Sau này, đế quốc Anh cắt nghĩa sự thắng lợi của họ là nhờ biết chuyển trang phục màu đỏ sang màu xanh-màu cây rừng có nhựa cao su. Nhưng sự thật lịch sử thì không phải như thế. Cái đã giúp cho quân Anh lấy được vùng đất này là bạo lực điên cuồng, chúng đã cưỡng bức thổ dân Bôe vào các trại tập trung hàng vạn người, cứ 1.000 trẻ em bị tập trung thì 500 trẻ em bị chết. Đó là những trại tập trung người đầu tiên trong lịch sử, mà phát xít Đức và đế quốc Mỹ sau này đều học cách làm theo.

Chỉ mười ngày sau khoảnh khắc giao thừa thế kỷ 20, một cuộc chiến tranh đã xảy ra như thế. Còn nếu lấy năm 1999 là năm cuối cùng của thế kỷ 20, nhiều nước đã làm như vậy, thì trong năm cuối cùng đó, ngày 25 tháng 3, Mỹ và mười mấy nước NATO tiến công Nam Tư. Người đương thời khó mà quên 79 ngày dữ dội ấy, tiếng khóc gào của trẻ con, hình ảnh những đoàn người Nam Tư đứng giăng trên chiếc cầu ở trung tâm thành phố để nói với Mỹ: đây là Tổ quốc của chúng tao, chúng tao sẽ cùng chết với chiếc cầu này.

Giữa hai cuộc chiến tranh mở đầu và khóa đuôi của thế kỷ 20 là hai cuộc đại chiến thế giới. Người ta tính bình quân từ sau khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc cho đến cuối thập kỷ thứ 9 của thế kỷ 20, hằng năm có 4,3 cuộc xung đột vũ trang. Trong thập kỷ cuối cùng, chỉ tính từ 1990 đến 1996, sau khi Liên Xô trước đây và các nước XHCN Đông Âu tan rã, trong bảy năm, mỗi năm trên thế giới nổ ra 13 cuộc chiến tranh với quy mô khác nhau. Riêng trên lãnh thổ Liên Xô trước đây, trong cơn sụp đổ mà đến ngày nay con người vẫn còn bận tâm lý giải, có trên 200 cuộc tranh chấp xảy ra, dẫn tới nổi loạn.

Chủ nghĩa đế quốc gắn liền với chiến tranh và khủng hoảng. Khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 1929-1933, cuộc khủng hoảng mà ký ức tuổi thơ còn đọng lại một đoạn văn miêu tả: Nước biển Đại Tây Dương từ màu lục biển đã biến thành màu sữa nhạt. Bởi khủng hoảng thừa, bọn tư bản độc quyền đã phải đục các lon sữa hộp quẳng xuống biển. Chỉ tính từ năm 1973 cho đến cuối thế kỷ, trong vòng hơn 25 năm, đã xảy ra 8 cuộc khủng hoảng lớn. Khủng hoảng dầu lửa năm 1973-1974 và 1979-1982, suy thoái kinh tế 1981-1983, khủng hoảng nợ Mỹ La-tinh 1982-1986, khủng hoảng thị trường chứng khoán 1987, khủng hoảng tiền tệ ở châu Âu 1992-1993, khủng hoảng tài chính ở Mê-hi-cô 1994 và khủng hoảng tài chính-tiền tệ ở Đông Nam Á và Đông Á năm 1997.

Cuộc khủng hoảng 1997 xảy ra giữa lúc đài, báo các nước đang liên tiếp ngợi ca không tiếc lời những con rồng châu Á, về con đường và cách đi “kỳ diệu” của nước này nước nọ, họ nói “cứ nhìn những ngôi nhà chọc trời của người ta mà rưng rưng cảm phục”. Bởi thế mà cuộc khủng hoảng ấy là cuộc khủng hoảng bất ngờ nhất, ít ai dự báo được và là cuộc khủng hoảng kinh tế lớn nhất 50 năm qua, thiệt hại ước tính 2.000 tỷ USD.

Nguyễn Trãi viết: Họa phúc đều có manh mối sâu xa không phải chỉ trong một ngày. Ăng-ghen cũng viết: Cái tất yếu mở đường qua vô số cái ngẫu nhiên. Cái tất yếu kia nằm trong bản chất của chủ nghĩa đế quốc. Chủ nghĩa đế quốc gắn liền với chiến tranh và khủng hoảng.

Còn cái năm đầu tiên của thế kỷ 21?

Chậm hơn một chút, so với thế kỷ 20, không phải là sau 9 ngày, mà sau 9 tháng, thế kỷ 21 lại nổ ra một cuộc chiến tranh, mà người đương thời gọi nó bằng nhiều tên, do tầm nhìn khác nhau, ý tưởng khác nhau, lợi ích sống còn khác nhau, suy cho cùng, do đại diện cho lợi ích của những giai cấp đối kháng khác nhau. Chiến tranh trả đũa, chiến tranh chống khủng bố, chiến tranh lật đổ, chiến tranh xâm lược, chiến tranh của một liên minh đồng sàng dị mộng, chiến tranh nhằm để mở rộng chiến tranh, chiến tranh thực hiện quyền uy của kẻ tham vọng đóng vai siêu cường duy nhất thế giới.

Các bậc tiên tri đương đại, họ và các công ty bảo trợ cho họ đã tiêu hàng tỷ, hàng triệu đơn vị tiền các loại. Họ đã đưa ra những lời tiên đoán đầy sức sống. Ví dụ như: rồi đây, dây cáp quang tối thiểu có thể truyền dẫn đến 6,25 triệu chữ Hán. Một sợi dây cáp quang nhỏ bằng sợi tóc có thể truyền dẫn một lúc 5.000 tín hiệu có tranh ảnh truyền hình hoặc 50 vạn ngữ âm của điện thoại…

Nhưng không một ai dự báo cái xảy ra trong năm đầu tiên của thế kỷ 21 lại là một cuộc chiến tranh, một kiểu chiến tranh mà sức khoan, phạm vi phát quang và chiều cao của các cột khói bom hạng nặng do Mỹ giội xuống, thì không một cuộc không kích bằng vũ khí thông thường nào trước đó sánh bằng.

Tri thức, khoa học và kỹ thuật do con người tạo ra. Tuy rằng mỗi dân tộc đều có chung một đặc điểm riêng và tính cách riêng, nhưng dân tộc nào cũng có sự cai trị bởi một giai cấp nhất định. Quái ác thay, trong xã hội còn giai cấp, khoa học-kỹ thuật ấy, do những lợi ích giai cấp khác nhau mà vừa mang lại cái thiện, hạnh phúc vô ngần, vừa mang lại cái ác, quằn quại, không hề bớt đi, ngược lại ngày càng tăng thêm cùng với khoa học-kỹ thuật.

Thế kỷ 21 dài đằng đẵng này, còn hơn 90 năm nữa. Cuộc đấu tranh của loài người tìm đến hạnh phúc, mong được sống tốt đẹp và sung sướng đã và đang sinh ra những vĩ nhân, cùng vô số những con người lương thiện “lấy lòng thương người dưng làm của cải”. Cùng một lúc, cái ác cũng sinh ra những quái vật. Bọn thủ ác có lưỡi và nói tiếng người, nghe rờn rợn như tiếng chó sói, lươn lẹo, uốn éo như từ cửa miệng ma quỷ lẩn khuất đâu đó hiện về.

Cái thiện còn đó, mà cái ác cũng vẫn còn đó. Chỉ có những người ảo tưởng và những kẻ lừa đảo mới vô tình và cố ý nhận lầm, diễn lầm lịch sử.

Một trăm năm sau, vào một đêm như đêm nay, qua nếm trải sự đời, phải chăng các nhà văn kiếp nớ lại ngồi đọc Nguyễn Trãi:

“Mấy năm xảy ra biến cố làm cho người mau già”

“Nằm gối đầu bên cửa thuyền mà trăn trở cho đến sáng”

“Hoa rụng làm cho lòng suối thơm”.

*

* *

Có người nói rằng: so với cuộc đời lâu dài của dân tộc, thì chiến tranh chỉ là khoảnh khắc. Quả là nếu cộng lại 3 lần kháng chiến chống Nguyên Mông của cha ông ta, thì thời gian đâu có dài. Nhưng nếu xét cả những năm tháng đằng đẵng chuẩn bị kháng chiến, vỗ gối, đầm đìa nước mắt, thì thời gian dành cho võ bị dài xiết bao.

Những cuộc chiến tranh chống xâm lược của Tổ quốc ta chỉ là khoảnh khắc. Dù cho là vậy, thì khoảnh khắc ấy cô đặc cả một đời người, một đời dân tộc, mấy trăm năm, mấy ngàn năm, bản lĩnh dân tộc được vun đắp và khẳng định. Người viết về các cuộc kháng chiến của dân tộc là khám phá qua khoảnh khắc cô đặc đó, tính cách và bản lĩnh lâu dài của con người và dân tộc ta. Mà bản lĩnh nào thì số phận nấy. Sự khám phá đó còn mãi mãi.

Vị thầy xứ Nghệ đã lên tiếng, xanh rờn như mạ: có thể so sánh văn chương với trời và đất. Truyện Kiều còn thì nước Nam còn. Sống vì đời, vì dân tộc, vì văn chương. Chết cũng vì dân tộc và văn chương. Đắm say và tàn phế, trải qua vô số gian truân, trắc ẩn cũng vì đời vì văn chương. Tồn tại với văn chương, nhờ thế mà tồn tại được với trời và trên lưng đất.

Hoa rụng làm cho dòng suối thơm. Văn không thể mất! Văn chương như ngàn hoa vẫn rụng xuống những dòng suối trong, ngày ngày, trên hành tinh xanh đầy bí ẩn này, trên cơ thể cường tráng, cũng kỳ lạ và đầy bí ẩn của dân tộc ta. Tưởng như Lý Bạch, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du vẫn còn đó, đương lặn ngụp tìm vớt những vần thơ, lung linh trăng tỏa.

Nguyễn Chí Trung