Đường Trường Sơn huyền thoại. Ảnh Internet

Trưa hè Nghĩa trang Trường Sơn chợt như có gió lành mát rượi từ đâu thổi tới. Gió từ thượng nguồn sông Hiền Lương, từ Bãi Hà phía bắc, hay từ Biển Đông qua sông Thạch Hãn, sông Cửa Việt thổi vào? Và gió từ đại ngàn Trường Sơn? Những đoàn xe từ đâu lại đến, tóc bạc, tóc xanh tỏa ra như những làn gió nhỏ len len bên dãy dãy mộ xếp thành hàng ngũ. Có thêm hoa mới, có thêm những làn khói hương mảnh mảnh trên các nấm mộ. Trong ngọn gió Trường Sơn, quyện với hương trầm, hương hoa lại như có những hương vị thân quen từ quê nhà. Có hương chè Thái Nguyên, Phú Thọ; Có xoài, vú sữa, măng cụt Nam Bộ; Có mùi thơm ngậy của bánh đậu xanh Hải Dương. Kia nữa, có phong lương khô giông giống loại 701, 702 thuở nào, có gói kẹo vừng, kẹo bột đặt bên bao thuốc đã bóc sẵn…

Hương quê đã tụ hội về đây. Chợt như nghe râm ran chuyện của tiểu đội giữa rừng sâu Trường Sơn. Chợt lại thấy hiện về những tối chiến hào biên giới. Chợt như có mùi khét của rừng Lào mùa khô chen tiếng nước lên rần rật ở Biển hồ Cam-pu-chia những tháng năm quân tình nguyện. Ở Nghĩa trang Trường Sơn lại nhớ những Nghĩa trang miền tây Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Bình, lại nhớ đến đồi A1, Điện Biên Phủ, đến Củ Chi-Bến Dược, nghĩa trang Mũi đất Hà Tiên, nghĩa trang hình 5 cánh sao Tây Ninh… Một ngày tôi qua, “gió Tây Trang” hun hút thổi về Điện Biên. Một ngày tôi qua, gió từ Vịnh Thái Lan, từ Biển Hồ rười rượi thổi về Nghĩa trang Quân tình nguyện trên đất Tây Ninh. Một chiều tôi qua, gió mang theo hương bồ kếp ai đó đã mang đến để các o gái Ngã ba Đồng Lộc gội đầu.

Lại hiện về hình ảnh không thể quên ở nghĩa trang Hàng Dương, Côn Đảo. Ấy là những ngày đầu tiên tôi có mặt tại Côn Đảo vừa giải phóng, tháng 5-1975. Cái nghĩa trang Hàng Dương xác xơ vì địch đào bới, không có bia mộ của một ai. Vậy mà các thế hệ bạn tù vẫn có cách để đánh dấu, để găm vào lòng: Dưới những viên gạch này là mộ đồng chí Lê Hồng Phong. Kia, bên gốc một cây dương bị gió đánh cụt ngọn là mộ chị Võ Thị Sáu. Trên nấm mộ ấy, lúc nào cũng có một bụi hoa dừa nhỏ màu hồng man mát rung rinh trước gió. Bây giờ thì Nghĩa trang Hàng Dương đã được xây cất to đẹp, đàng hoàng nhưng ngày ấy hoang sơ một bãi cát trắng. Tôi hiểu tấm lòng của những bạn tù trong những song sắt xà lim Chuồng Cọp, Chuồng Bò, Trại 6, Trại 7… những chục năm ròng luôn hướng về hình ảnh chiến đấu và hy sinh bất khuất của đồng chí, đồng đội, vẫn hướng về Nghĩa trang Hàng Dương mà nuôi bền chí khí đấu tranh. Tôi hiểu, ngay từ ngày Toàn quốc kháng chiến 19-12-1946, ngày đầu tiên cả dân tộc bước vào cuộc trường chinh đánh giặc cứu nước 30 năm, những “Quyết tử quân” Hà Nội ngã xuống đã được Bác Hồ và quân, dân ta trân trọng chăm lo. Nghĩa trang 19 tháng 12, Nghĩa trang Mai Dịch hình thành từ đấy. Để rồi, khi cơ quan Đảng, Chính phủ ta chuyển lên chiến khu Việt Bắc, Bác Hồ đã quyết định lấy ngày 27-7 làm Ngày Thương binh-Liệt sĩ. Kháng chiến bắt đầu bằng sự hy sinh và sự hy sinh, dâng hiến của chiến sĩ, đồng bào trong tấm lòng của Bác, của quân dân ta đã trở thành sức mạnh, xây đắp thêm niềm tin quyết chiến quyết thắng của toàn dân tộc.

Có dân tộc nào trên thế giới này dành riêng một ngày để tưởng nhớ các anh hùng, liệt sĩ, thương binh, những người có công với nước, để hướng tâm linh, tình cảm cùng mọi nguồn lực xã hội giúp đỡ cho những người, những gia đình đã hy sinh xương máu vì Tổ quốc? Trong kháng chiến gian khổ, thiếu thốn mọi bề mà quân dân ta vẫn tìm mọi cách làm tốt nhất công tác chính sách, chăm sóc tốt nhất cho những người đã ngã xuống, những thương binh. Hòa bình, hạnh phúc trong tay, công tác chính sách ngày càng chính quy hơn, ngày càng phát triển trở thành công tác của toàn dân, trở thành một sự nghiệp toàn dân “đền ơn đáp nghĩa”. Bởi không ai quên, bởi tình cảm thiêng liêng trước những con người bất tử, bởi đạo lý uống nước nhớ nguồn đã trở thành một động lực giúp cho những người đang sống vững tin hơn, mạnh mẽ hơn thực hiện những giấc mơ xây dựng đất nước, xây dựng cuộc sống, con người thế hệ sau.

* *

*

Một ngày mùa thu, tôi đã đứng rất lâu bên Bức tường tưởng niệm lính Mỹ trong chiến tranh Việt Nam (The Vietnam Veterants Memorial). Đài dựng giữa lòng Thủ đô nước Mỹ Oa-sinh-tơn, giữa một phía là Đài tưởng niệm G.Oa-sinh-tơn cao vút, phía bên kia, xa xa là một biểu tượng khác của nước Mỹ: Đồi Capital ngạo nghễ với các tòa nhà Quốc hội Mỹ. Đó là một bức tường hình chữ V, ghi tên những người lính Mỹ bị chết trong cuộc chiến tranh do người Mỹ gây nên tại Việt Nam. Bức tường xây nửa nổi nửa chìm, mà như một nhà văn Ru-ma-ni nhận xét: Một đài tưởng niệm duy nhất trên thế giới làm theo hướng đi vào lòng đất. Phía trên, người ta để những quyển sách dầy cộp trên một giá đỡ giúp mọi người dễ tra cứu. Ngày thu, trời đất nước Mỹ nhiều gió quá. Gió như giằng giật lấy những trang sách khỏi tay tôi. Dẫu sao tôi cũng kịp đọc được những cái tên, những nơi sinh ra họ và ngày tháng năm sinh của mỗi người. Tuyệt đại đa số họ đều chết trẻ ở tuổi 20.

Tuổi 20, những người lính Mỹ ôm súng ở chiến trường Việt Nam ước mơ những gì tôi không rõ, chỉ biết rằng đã có những làn sóng thanh niên Mỹ phản chiến, đã có những làn sóng biểu tình liên tiếp nổ ra của những người dân Mỹ đòi đưa con em họ về nước, đòi chấm dứt chiến tranh… Cuối cùng thì những bộ hài cốt của lính Mỹ trong lòng đất Việt Nam cũng đã được tấm lòng nhân hậu của người Việt Nam giúp tìm đưa về đất Mỹ. Cuối cùng thì những vết thương chiến tranh cũng dần nguôi ngoai, cả người Việt, người Mỹ đều khát vọng hòa bình, đều muốn xây dựng một tương lai tươi đẹp. Những người lính Mỹ có tên ghi ở bức tường này có mong như thế.

Tôi có hạnh phúc được sinh ra, lớn lên và cầm súng cùng một lớp người tuổi 20 của Trường Sơn lãng mạn, giàu mơ ước. Bây giờ, mỗi khi thắp lên nén hương giữa Trường Sơn, những đôi mắt ngời sáng của bạn bè, đồng đội lại hiện về, những câu thơ, những bài hát tình ca và hành khúc như lại vang lên cùng những lời tâm sự, những câu chuyện mơ ước của từng người. Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh, Mũi đất Cà Mau mà bạn mơ chúng tôi đã đến. Những con tàu biển lớn, những giàn khoan chinh phục bề rộng, bề sâu của biển như bạn hằng mơ bây giờ đã hiển hiện trước mắt tôi… Chắc các bạn tôi đang lắng nghe, tôi và những bạn bè, những người đang sống sẽ kể tiếp những câu chuyện của ngày hôm nay, của ngày mai.

* *

*

Người thương binh nặng nhất trong gia đình tôi là cậu Ninh.Cậu bị thương vào cột sống hầu như không ngày nào vết thương không hành hạ cậu. Bố mẹ, anh chị em tôi đến Trung tâm điều dưỡng thương binh nặng Thuận Thành, Bắc Ninh thăm thường hỏi cậu mong muốn điều gì, thích gì. Cậu bảo chỉ mong có ngày nào rỗi chị em tôi lại đến thăm. Chúng tôi đến, cậu lái xe lăn cùng chúng tôi ra chợ làng mua cua, mua rau, vừa đi vừa kể với nhau đủ thứ chuyện, trừ chuyện cậu kiên quyết từ chối không chấp nhận yêu cầu kết hôn của cô người yêu của cậu vì cậu không còn khả năng đem lại hạnh phúc cho cô.

Các bác các chú ở trại thương binh nhường cả căn phòng cho cậu cháu chúng tôi. Mọi người bảo ở đây đồng chí đồng đội sống với nhau hằng ngày, chỉ thèm một bữa cơm gia đình. Ngồi trên xe lăn, cậu ngắm chúng tôi giã cua, nhặt rau, hỏi chúng tôi về những vùng quê trong nước và những đất nước mọi người được đặt chân đến. Nấu xong, cậu bảo để cậu nếm. Cậu ăn chỉ vài muôi canh rồi đặt xuống, lại ngồi ngắm chúng tôi ăn. Cậu bảo chỉ ăn được bấy nhiêu thôi. Ước mong của cậu là được nhìn thấy, được sống ít giờ ngắn ngủi của một gia đình.

Thế rồi sau đấy ít lâu cậu tôi ra đi. Trước khi mất, cậu đã kịp thực hiện một ước mơ cuối cùng: cưới vợ. Cậu cưới một người là vợ liệt sĩ. Cậu cưới là để bù đắp tình cảm và dành toàn bộ những gì cậu có giúp mẹ con người vợ liệt sĩ ấy.

Tôi cũng đã nhiều lần được biết đến những ước mơ giản dị của những người thương binh như cậu tôi. Tôi đã biết có những bà mẹ Việt Nam anh hùng từng khước từ những gói quà, đồng tiền trợ giúp của mọi người. Có mẹ bảo mẹ già rồi, còn cần chi nữa, chỉ mong được thi thoảng lại có người đến thăm để được nghe giọng nói, để được thấy cuộc sống ấm áp quanh mình…Còn của cải, tiền bạc hãy để giúp những gia đình còn thiếu ăn, thiếu mặc, cho những đứa trẻ được đi học…

Những câu chuyện nghĩa tình, nhường cơm xẻ áo, đùm bọc lẫn nhau ở đất nước này chúng ta còn kể mãi. Ngọn gió Trường Sơn hôm nay chắc sẽ chở giúp những câu chuyện của tôi đến với các anh.

MẠNH HÙNG