Bản thảo bài thơ “Mừng xuân 74” của liệt Lê Xuân Đĩnh. Ảnh: Tư liệu

Không hiểu sao mỗi khi có cuốn “Nhật ký chiến tranh” nào được xuất bản là tôi lại sưu tầm bằng được để đọc. Đọc ngấu nghiến như sợ ai lấy mất, rồi đọc lại chầm chậm để nghiền ngẫm. Chẳng thế mà có đồng nghiệp bảo tôi rằng trong ba lô của tôi toàn thấy sách của… liệt sĩ. Và, đúng là như vậy! Ngoài những “Lá thư thời chiến”, “Nhật ký Đặng Thùy Trâm”, “Mãi mãi tuổi hai mươi”, “Sống để yêu thương và dâng hiến”, “Tài hoa ra trận”, “Đường về”… nay tôi đã có thêm cuốn “Nhật ký thơ thời chiến 1970-1974” của liệt sĩ Lê Xuân Đĩnh do một người bạn thân mới tặng…

Nhà thơ Trần Đăng Khoa sau khi đọc “Nhật ký thơ thời chiến 1970-1974” của liệt sĩ Lê Xuân Đĩnh đã không giấu được cảm xúc: “Đọc anh, ta có thể quên thơ mà nhớ đến tấm lòng. Đó là tấm lòng yêu thương con người, yêu thương quê hương đất nước. Anh còn bộc lộ tình yêu ấy bằng chính máu của mình. Đó cũng là một bài thơ nằm ở đằng sau trang giấy. Lê Xuân Đĩnh làm ta xúc động vì những chi tiết rất chân thực của đời sống. Đây là cuốn nhật ký viết bằng thơ. Và cuốn nhật ký thơ này cũng như nhiều cuốn nhật ký chiến tranh của các anh hùng liệt sĩ, đã lưu giữ cho chúng ta những khoảnh khắc thiêng liêng của một thời binh lửa. Đó là một vẻ đẹp của lịch sử. Dù năm tháng đã qua, đời sống cũng đã đổi khác, nhưng những vẻ đẹp ấy vẫn không thể phai nhòa…”.

Đúng thế, liệt sĩ Lê Xuân Đĩnh không phải là nhà thơ nhưng những gì anh viết lại chất chứa một tâm hồn thi sĩ. Anh-một người con của vùng đất Lâm Thao (Phú Thọ), một cựu sinh viên của Trường đại học Nông nghiệp I (Hà Nội), đã mang đến cho những người chiến sĩ nói riêng, thế hệ trẻ Việt Nam hôm nay nói chung một cái nhìn tinh tế, sâu sắc về cuộc chiến tranh chống đế quốc Mỹ của dân tộc ta thông qua những vần thơ rạo rực lòng người: “Đoàn quân đi trước, tiếp đoàn sau/ Lòng thêm rạo rực ra tiền tuyến/ Đều hẹn cùng nhau lập công đầu” (Bài “Lán giữa rừng”).

Chiến tranh là khốc liệt, là mất mát đau thương, nhưng với người chiến sĩ thì đúng là “đường ra trận mùa này đẹp lắm”! Chính vì thế mà những tuyến đường hầm tránh đạn, đường hào tiến công trong mắt họ lại là những bức tranh tuyệt đẹp, sinh động đến không ngờ: “Đẹp thay những tuyến đường hào/Lượn vòng uốn khúc chạy vào chạy ra/Như đường mạch máu tim ta/Chảy đi vô tận chan hòa mênh mông…/Hào đi giữa đất quê hương/Như trong lòng mẹ tình thương dạt dào” (Bài “Đường hào đánh Mỹ”).

Đôi khi trong thơ anh sự lạc quan đến ngạo nghễ của người lính chiến như chế giễu, như cười vào mặt quân thù: “Mặc trong tầm bom pháo/ Vẫn câu cá, bắt tôm/Như ngày nào còn bé/Đi cất vó ao làng/Mặc pháo bầy, tăng tốc/Vẫn thay nhau đào hào/Xẻng kiên trì gọt đất/Đêm làm bạn trăng sao” (Bài “Trận địa chúng tôi”).

Với anh việc muỗi đốt, ghẻ lở cũng được chuyển thể thành… thơ để mà vui, mà động viên tinh thần chiến đấu: “Tay lên, tay xuống nhịp nhàng/ Nốt trên, nốt dưới ngân vang bổng trầm/ Nốt hồng, nốt đã lâm thâm/ Lạ cho đàn ghẻ hành quân trên đường” (Bài “Đánh màn đêm”) hay: “Mỗi con có một “kim tiêm”/ Gặp ai cũng muốn xỏ xiên vào người/ “Tiêm” xong chúng thích chúng cười (…)/ Lựa mà xoa nhẹ bàn tay/ Cũng vơ được muỗi nắm đầy, nắm vơi (Bài “Muỗi Thanh Hương”).

Là một người cán bộ chỉ huy, nhưng ở anh luôn chất chứa một tâm hồn lãng mạn. Bởi thế hôm nay chúng ta mới được đọc những vần thơ đẹp như một bức tranh thủy mạc của anh: “Xanh xanh núi biếc lưng trời/ Nao nao dòng suối reo cười đón xuân” (Bài “Chúc mừng năm mới Xuân Tân Hợi”) hay “Nắng vàng trải lụa ven sông/ Rì rào sóng nước theo dòng cuộn trôi/ Trập trùng núi biếc lưng trời/ Người say với cảnh đón vui hòa bình” (Bài “Hòa bình”).

Liệt sĩ Lê Xuân Đĩnh.

Cũng là người lính, cũng từng “ôm súng thép” đứng gác trong đêm như anh, nhưng anh là “lính chiến”, còn tôi và đồng đội của tôi hôm nay là “lính thời bình”. Chính vì thế mà tôi đã đọc đi đọc lại nhiều lần bài thơ “Đứng gác trong đêm” của anh để tự suy tư, nghiền ngẫm. Với thể thơ 5 chữ, mỗi khổ thơ 4 câu, đọc lên nghe giọng thơ… mạnh mẽ, dứt khoát như động tác chào hỏi, nghiêm trang như bước đi điều lệnh nhưng vẫn không kém phần da diết, thiết tha: “Các em ơi cứ ngủ/ Yên giấc ấm trong chăn/ Có anh đây đứng gác/ Cho lứa tuổi trăng rằm”, và rồi một khắc day dứt nhớ về người mẹ già tần tảo sớm hôm nơi quê nhà vẳng lên trong tâm khảm của anh đã khiến mắt tôi cay cay: “Mẹ ơi cứ ngủ ngon/ Có con đây canh gác/ Con tuy vất vả nhiều/ Đâu bằng đời mẹ cực”. Thế rồi, anh cũng hứa với mẹ rằng: “Mẹ ơi con xin phép/ Đi xa mẹ ít ngày/ Thống nhất con về đấy/ Trong chiến thắng cờ bay”.

Cho đến lúc hy sinh, anh mới tròn 26 tuổi. Độ tuổi đang dâng đầy sức sống, với trái tim đang hừng hực tuổi xuân. Có lẽ vì thế mà anh viết rất nhiều những bài thơ về mùa Xuân. Bài nào cũng tràn đầy niềm tin vào chiến thắng: “Tết này con ở thao trường/ Vẫn vui đón Tết vẫn mừng xuân sang/ Bao giờ giải phóng miền Nam/ Con về đón Tết sẽ càng vui hơn” (Bài “Chúc mừng năm mới”). Chiến tranh mà, nên đón Tết sẽ thiếu thốn đủ thứ, thế nhưng người chiến sĩ vẫn náo nức với mùa xuân: “Nơi chiến trường hôm nay ta đón Tết/ Không rượu, không trà, không bánh chưng xanh/ Không pháo hoa, pháo Tết, dưa hành/ Sao vẫn vui rộn ràng náo nức/ Bởi lòng ta có chiến công tiếp sức/ Từ hậu phương miền Bắc anh hùng…” (Bài “Xuân chiến trường”).

Ai ngờ! Bài thơ “Mừng xuân 1974” lại là bài thơ xuân cuối cùng của anh. Anh đã hứa với gia đình: “Mừng vui trong Tết Giáp Dần/ Sẵn sàng tay súng giữ xuân hòa bình/ Ngày mai thống nhất nước mình/ Con về đón Tết gia đình vui hơn”.

Qua lời kể của TS. Dương Văn Hiểu (Giảng viên Trường đại học Nông nghiệp I, Hà Nội, cựu sinh viên Trung đoàn 18, Sư đoàn 325), chúng ta sẽ thấy được sự hy sinh anh dũng của người đại đội trưởng Lê Xuân Đĩnh: “Lần đó, tại vùng núi phía Tây của tỉnh Thừa Thiên-Huế, được lệnh, đơn vị anh đã dùng dàn pháo DKB bắn phá trận địa pháo, căn cứ hậu cần, kho súng đạn, xăng, dầu và trận địa đóng quân của địch. Anh đã cùng 3 chiến sĩ Nguyễn Văn Đường (quê Hà Tĩnh), Trần Văn Nguyên (quê Hải Phòng) và Lê Đức Gần (quê Thanh Hóa) áp sát căn cứ này để chỉnh cho pháo của đại đội bắn trúng mục tiêu. Toàn bộ kho hậu cần, phương tiện chiến tranh của địch bị bốc cháy trong hai ngày liên tục. Địch đã tung nhiều tốp thám báo, biệt kích lùng sục khắp nơi. Khi biết được có đài chỉnh pháo của ta rất gần nơi chúng ở, địch đã đưa thêm quân ra bao vây hòng bắt sống. Với lực lượng địch đông hơn gấp bội, biết không thể ở lại ngay sát căn cứ địch, anh đã ra lệnh cho 3 chiến sĩ đưa toàn bộ máy móc, thiết bị và bản đồ quân sự đã được đồng chí đánh dấu cẩn thận rút lui về phía sau an toàn. Chỉ còn mình anh với khẩu AK, 2 quả lựu đạn và cơ số đạn có hạn, anh đã đánh lui nhiều đợt tấn công của địch trong nhiều giờ đồng hồ. Vừa chiến đấu, vừa đánh lạc hướng địch để bảo vệ đồng đội, người đại đội trưởng đã dũng cảm hy sinh trên một quả đồi, bên cạnh dòng sông Âu Lâu của tỉnh Thừa Thiên-Huế, vào chiều ngày 3-9-1974”.

Có thể nói, thơ của anh chính là tiếng lòng cất lên từ trái tim nhân hậu, biết yêu thương con người và vạn vật cỏ cây. Và trên hết, đó là một trái tim hừng hực khát vọng lý tưởng cống hiến cho đồng bào, Tổ quốc: “Bạn hỏi tôi thế nào là Tổ quốc?/ Tôi trả lời không chút ngại ngần/ Tất cả quanh tôi, dù bình thường nhất/ Nhưng đều cùng gắn bó quen thân (…)/ Ta sẽ nguyện đứng trên mình Tổ quốc/ Giữ cơ thể Việt Nam không chảy máu đau thương/ Ta có mất-mất gông cùm xiềng xích/ Nhưng được Việt Nam-được cả thiên đường” (Bài “Tháng Tám đáng nhớ”).

Với những dòng tâm sự này, người viết chỉ mong như một nén hương trầm gửi đến anh, đến bên dòng Âu Lâu-nơi thân thể anh đã hòa quyện vào cỏ cây, sông núi mà cho đến giờ phút này gia đình và đồng đội vẫn chưa tìm thấy thi hài của anh!

Hà Nội-Bình Dương, tháng 3 năm 2008

BĂNG PHƯƠNG