QĐND - Vận động, hướng dẫn đồng bào các dân tộc trên địa bàn huyện Mường Nhé (Điện Biên) thay đổi từ thói quen bao đời trồng lúa nương sang trồng lúa nước hai vụ đã khó, thì việc nhân rộng những cánh đồng hai vụ lúa nước ở đây còn khó hơn nhiều, đòi hỏi các cấp, ngành cần tiếp tục đầu tư, triển khai hiệu quả các dự án thủy lợi, góp phần hạn chế tình trạng đồng bào di cư, dịch cư tự do.

Cán bộ và trí thức trẻ tình nguyện Đoàn KT-QP B79 hướng dẫn người dân bản Nà Pán (Mường Nhé) kỹ thuật chăm sóc lúa nước.

Thoát nghèo nhờ “cánh đồng hai vụ”

- Bà con chỉ có thể thoát nghèo bền vững nếu biết trồng lúa nước - dẫn chúng tôi đi thăm những thửa ruộng lúa nước của đồng bào trên địa bàn đơn vị phụ trách, Trung tá Lê Khắc Tư, Đội trưởng Đội sản xuất số 8, Nông trường 2, Đoàn Kinh tế-Quốc phòng B79 (Quân khu 2) khẳng định như vậy. Tôi hiểu, giúp đồng bào các dân tộc trên địa bàn huyện Mường Nhé - một trong những huyện nghèo nhất nước (với hơn 70% dân số là đồng bào dân tộc Mông) - trồng lúa nước để thoát nghèo bền vững là quyết tâm, tâm huyết của các cán bộ, chiến sĩ Đoàn Kinh tế-Quốc phòng B79, vốn được đồng bào gọi thân mật là những “dũng sĩ diệt đói nghèo”.

Tại cánh đồng lúa nước thuộc bản Nậm Là, xã Mường Nhé, chúng tôi gặp bà Phùng Thị Sơ, người dân tộc Thái đang làm cỏ. Chỉ tay vào ruộng lúa xanh mướt đang thì con gái, bà Sơ cho biết:

- Trước đây nhà tôi chỉ làm lúa nương, năng suất thấp lắm cán bộ à, lại phải đốt rừng nữa. Nay có nước về, được bộ đội động viên, hướng dẫn, gia đình tôi mạnh dạn nhận 4 sào ruộng để trồng lúa nước, vụ này chắc sẽ thu được nhiều thóc...

Trung tá Lê Khắc Tư cho biết:

- Cứ khai hoang đến đâu, nước về đến đâu là bà con làm lúa nước hai vụ đến đó. Nhưng cách đây mấy năm, để vận động làm lúa nước thật không đơn giản vì bà con chưa tin trồng lúa nước cho năng suất cao. Đơn vị phải làm nhiều mô hình trồng lúa nước để “trình diễn”; làm thành công thì bà con mới tin, mới làm theo.

Chúng tôi tham quan cánh đồng lúa nước ở bản Nậm Là. Những năm trước, khi nước chưa về, bà con thường bỏ hoang hóa hoặc chỉ trồng ngô, vì vậy đời sống rất khó khăn. Năm 2010, khi dự án thủy lợi Nậm Là do Đoàn B79 làm chủ đầu tư hoàn thành và đưa vào khai thác, có đất, có nước, được sự động viên và hướng dẫn của bộ đội, bà con hăng hái nhận ruộng để trồng lúa nước hai vụ. Theo Trung tá Lê Khắc Tư, dù là vụ lúa nước đầu tiên, nhưng bà con trong bản ai cũng phấn khởi và tin tưởng vào một vụ mùa bội thu.

- Đơn vị đã vận động, hướng dẫn đồng bào trồng lúa nước nhiều năm, và thực tế đời sống của bà con có được cải thiện. Trả lời câu hỏi của chúng tôi, Trung tá Trần Minh Huệ, Trưởng ban Dân vận Đoàn B79, người đã hàng chục năm lăn lộn ở các đội sản xuất, gắn bó với bà con khẳng định:

- Hầu hết các hộ gia đình biết làm lúa nước đều đã thoát nghèo; có những hộ khá lên rõ rệt. Điển hình như gia đình ông Mùa Bá Hạ, dân tộc Mông, trú tại bản Cây Sặt, xã Mường Toong có gần 5 héc-ta lúa nước thu được từ 18 đến 20 tấn lúa/năm, nên từ một hộ nghèo, nay gia đình ông đã trở thành hộ có kinh tế khá...

Đồng chí Trần Anh Tuấn, Chủ tịch UBND huyện Mường Nhé cho biết, năm 2005, lương thực bình quân đầu người của huyện mới đạt 278 kg/người/năm, thì năm 2010 con số này là hơn 350 kg/người/năm. Giai đoạn 2005-2010, tỷ lệ hộ nghèo của huyện giảm trung bình 5%/năm. Để đạt được kết quả đó, việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, trong đó có việc mở rộng diện tích trồng lúa nước có vai trò đặc biệt quan trọng. Một trong những hướng ưu tiên của huyện thời gian tới là tiếp tục có những chủ trương, biện pháp hợp lý để phát triển mạnh diện tích trồng cây lúa nước.

Cần nhiều dự án thủy lợi

Trao đổi với chúng tôi, Đại tá Lê Thanh Trâm, Chính ủy Đoàn Kinh tế-Quốc phòng B79 cho biết: Hiện nay việc trồng lúa nước nói chung, lúa nước hai vụ nói riêng đã không còn “mới lạ” đối với đồng bào các dân tộc trên địa bàn huyện Mường Nhé; có đất, có nước là bà con sẽ làm. Trồng lúa nước không chỉ hạn chế được tình trạng đốt nương làm rẫy, mà sẽ mang no ấm đến với các bản làng. Nhưng để nhân rộng những “cánh đồng lúa nước hai vụ”, cần tiếp tục đầu tư xây dựng các dự án thủy lợi, hỗ trợ bà con khai hoang, ngăn chặn tình trạng di cư, dịch cư trái phép của một bộ phận đồng bào...

Công trình thủy lợi Nậm Là tổng vốn đầu tư 10 tỷ đồng do Đoàn B79 làm chủ đầu tư được hoàn thành năm 2010 là một trong những dự án mang lại hiệu quả cao. Với hệ thống kênh, mương kiên cố dài 4,5km dẫn nước từ đập thủy lợi đến các cánh đồng, phục vụ tưới tiêu cho 75 héc-ta ruộng ban đầu (năng lực tưới tiêu của dự án lên đến hàng trăm héc-ta) của đồng bào 3 bản Nà Pán, Nậm Là và Mường Nhé (xã Mường Nhé). Tuy nhiên, qua tìm hiểu thực tế chúng tôi thấy, những dự án như vậy chưa nhiều. Ở một huyện miền núi địa hình chia cắt, giao thông  khó khăn, nhiều nơi bà con chưa trồng được lúa nước, hoặc chỉ trồng được lúa nước một vụ với diện tích manh mún do thiếu nước thì dự án thủy lợi Nậm Là thực sự là điều ao ước của bà con. Được biết, hiện một số dự án thủy lợi như Nậm Xả (xã Mường Toong), Trạm Púng (xã Quảng Lâm), Phù Phang (xã Chung Chải), Sen Thượng (xã Sen Thượng)... đang được triển khai xây dựng và mong rằng sẽ sớm hoàn thành và đưa vào khai thác đạt hiệu quả.

Trong 4 tháng đầu năm 2011, có hơn 200 hộ dân với hơn 1000 nhân khẩu dịch cư và di cư tự do đến địa bàn huyện Mường Nhé. Tình trạng trên khiến quy hoạch dân cư cũng như quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội trên địa bàn phần nào bị “phá vỡ”, ảnh hưởng đến việc đầu tư, tốc độ triển khai xây dựng các dự án thủy lợi, cơ sở hạ tầng, điện, đường, trường, trạm... Để phát triển diện tích trồng lúa nước phải hạn chế thấp nhất tình trạng di cư, dịch cư tự do của một bộ phận đồng bào người Mông, đồng thời cấp ủy, chính quyền địa phương cần có các chính sách cụ thể, thiết thực nhằm động viên, khuyến khích, hỗ trợ đồng bào đẩy mạnh khai hoang phục hóa, trồng lúa nước...

Năm 2010, bà con các dân tộc huyện Mường Nhé gieo cấy hơn 1.400ha lúa mùa, gần 25 héc-ta lúa chiêm xuân. Quý 1 năm 2011, diện tích gieo cấy lúa chiêm xuân trên địa bàn huyện đạt 50 héc-ta, tăng gấp đôi so với cùng kỳ năm 2010

Bài và ảnh: Trung Kiên-Phan Anh