“Bác Nguyễn Phú Xuyên Khung mất rồi, người đội trưởng và cũng là chiến sĩ cuối cùng của Đội công binh 83, đơn vị đã lập kỳ tích về đào hầm ngầm và điểm hỏa lượng nổ nghìn cân trong lòng đồi A1 đêm 6-5-1954 đã ra đi” – một người cháu của bác Xuyên Khung, gọi điện thông báo cho tôi biết cái tin gây bàng hoàng ấy.
Bàng hoàng bởi mới cách đây ít tháng, tôi đến thăm bác trong ngôi nhà nhỏ ở làng Bắc Biên (Ngọc Thụy, Long Biên, Hà Nội) khi bác vừa bình phục sau một thời gian dài chữa bệnh. Người cựu chiến binh Điện Biên Phủ ở tuổi 87 dù gầy yếu đi nhiều nhưng giọng nói của bác vẫn sang sảng như có gang, có thép. Hôm đó, bác Xuyên Khung vui lắm vì đã đi lại được sau hơn một năm phải nằm một chỗ để chữa trị tai biến mạch máu não. Bác bảo, bây giờ là lúc bác phải thực hiện kế hoạch đã ấp ủ bấy lâu, đó là đi thăm lại chiến trường xưa ở miền Nam và Học viện Lục quân ở Đà Lạt - nơi công tác cuối cùng của bác trong đời binh nghiệp. Bác nói là làm, mặc cho con cháu lo lắng, can ngăn. Và bác đã ra đi ngay sau khi đạt được ước nguyện cuối cùng của cuộc đời. Bác gái Nguyễn Thị Toàn nói với tôi: “Trước khi ông ấy trở lại miền Nam thăm đơn vị cũ, tôi đã rất lo nhưng rồi vẫn để ông đi vì trong cuộc đời ông, chưa có bất kỳ kế hoạch nào đặt ra mà ông không thực hiện cho kỳ được”.
 |
| Ông Nguyễn Phú Xuyên Khung thăm lại đường hầm ngầm dẫn vào nơi đặt khối bộc phá nghìn cân trên đồi A1, tháng 2-2004. Ảnh: Nam Hải |
Tính cách “nói là làm” của bác Xuyên Khung, tôi cũng được nghe nhiều lần. Những năm trước, mỗi dịp đất nước mừng chiến thắng Điện Biên Phủ, tôi thường đến thăm ông và được nghe ông kể về những hồi ức, kỷ niệm. Ông tham gia cách mạng từ tháng 3-1945, là chiến sĩ đội du kích của làng Hổ Lao trong Đệ tứ chiến khu Đông Triều. Năm 1953, tham gia chiến dịch Tây Bắc, ông là người có vinh dự lớn khi được Bác Hồ gửi tặng chiếc áo lụa của Người vì giành thành tích cao nhất trong phong trào thi đua của chiến dịch. Tất nhiên, kỷ niệm sâu sắc nhất trong cuộc đời ông chính là lần làm Đội trưởng Đội công binh 83 trong trận đánh Đồi A1 của Chiến dịch Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu”. Đại tướng Võ Nguyên Giáp, trong Hồi ký “Điện Biên Phủ, điểm hẹn lịch sử” đã dành một trang để viết về ông: “Đường hầm ở A1 đào chậm hơn dự kiến. Một đội đặc biệt gồm 25 cán bộ, chiến sĩ do đồng chí Nguyễn Phú Xuyên Khung, cán bộ công binh của Bộ, trực tiếp chỉ huy, đã tiến hành công việc ngay trước mũi súng quân địch, trong tầm kiểm soát của lựu đạn...”. Sự kiện đánh quả bộc phá nghìn cân trên đồi A1 đêm 6-5-1954, báo chí đã nhắc đến nhiều. Sau này, mỗi khi có nhà báo đến phỏng vấn, ông không nói về mình mà thường “lạc đề” khi nghẹn ngào nhắc đến những người đồng đội đã hy sinh.
Sau chiến dịch Điện Biên Phủ, ông vào học tại Học viện Quân chính. Từ bản lĩnh chiến trường cộng với kiến thức được đào tạo bài bản, ông trở thành giảng viên dạy cả ba cấp (tiểu đoàn, trung đoàn, sư đoàn) của ngôi trường này. Đến năm 1964, ông lên Đoàn tàu không số đầu tiên cùng đoàn cán bộ cao cấp vào tăng cường cho miền Nam. Chuyến vào Nam đáng nhớ ấy, bị địch phát hiện, vây ráp. Mãi cuối năm 1964, ông mới cập bến đất mũi Cà Mau. Cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, ông kinh qua các chức vụ là Chủ nhiệm Công binh và Đặc công miền Đông Nam Bộ, Phó tư lệnh Công binh miền Đông Nam Bộ kiêm Chỉ huy trưởng Đoàn Công binh 25. Đời binh nghiệp của ông gắn bó với Đà Lạt 8 năm sau đó, từ 1976 đến 1984, ông là Trưởng khoa Công binh, Học viện Lục quân. Mãi tới khi nghỉ hưu, ông mới về lại quê hương Hà Nội - nơi ông đã xa cách gần nửa thế kỷ.
Hôm 30-4 vừa rồi, ông nói: “Bác đã thăm lại đồi A1 năm 2004 rồi. Sắp tới, được thăm lại miền Nam và Học viện Lục quân nữa thì có theo các cụ về với tổ tiên cũng thấy vui vẻ”. Tôi nói: “Bác là người duy nhất còn lại của Đội công binh đặc biệt 83 nên phải giữ sức khỏe để dự Đại lễ 1000 năm Thăng Long-Hà Nội”. Ông cười vang, đồng tình với ý kiến của tôi. Vậy mà, giờ ông đã đi xa. Tôi ngồi trong căn nhà nhỏ của ông ở làng Bắc Biên mà tưởng như đâu đây vẫn vang vọng giọng nói, tiếng cười của ông mỗi khi kể về Tây Bắc, về quả bộc phá Điện Biên Phủ “chấn động địa cầu”.
Hồng Hải