Thị trường chứng khoán đóng băng nhưng chưa thể nói là đang nguy kịch. Ảnh: H.Thúy
TS Nguyễn Minh Phong (Viện Nghiên cứu Phát triển kinh tế xã hội Hà Nội), một chuyên gia nghiên cứu về lạm phát, nhận diện tình trạng lạm phát ở nước ta, qua cuộc trao đổi với phóng viên Báo Người Lao Động

Tự do theo giá thị trường nhưng vẫn độc quyền: Bất cập nhân đôi!

. Phóng viên: Nhiều chuyên gia kinh tế đã phân tích về nguồn gốc tình hình lạm phát hiện nay, thậm chí họ còn đưa ra nhận định: “VN là nạn nhân của sự bùng nổ”, còn Chính phủ cho rằng nguyên nhân chính là do tác động của giá thế giới và việc điều hành chính sách tiền tệ còn lúng túng. Theo ông, bản chất của lạm phát tại VN hiện nay là gì?

- TS Nguyễn Minh Phong: Nghiên cứu của nhóm các nhà kinh tế ĐH Harvard (Mỹ) chỉ đúng một phần thôi. Còn nhiều vấn đề họ chưa hình dung hết, đó là những đặc thù riêng của nền kinh tế VN. Ví dụ, họ không hiểu vai trò của việc điều chỉnh giá của Chính phủ đối với những mặt hàng còn độc quyền, còn kiểm soát.

Lạm phát ở VN hiện nay là tập hợp của 4 dạng lạm phát nhưng ít người thấy đủ:

1. Lạm phát liên quan đến tiền tệ (nhóm nghiên cứu ĐH Harvard đặt trọng tâm vào loại lạm phát này) – tăng tổng cung khối lượng thanh toán (tăng tín dụng, tăng đầu tư nước ngoài, tăng các nguồn thu ngân sách lớn...). Trong nước, ngân sách đầu tư lớn, do sự tăng trưởng mạnh của khối ngân hàng thương mại cổ phần. Chẳng hạn, tại TP Hà Nội, theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước, lượng tăng trưởng tín dụng năm 2007 lên tới 70% – 80%, trong khi khối các ngân hàng quốc doanh tăng trưởng tín dụng chỉ khoảng 20% – 30%. Trong khi đó, GDP tăng trưởng có 8,4%, bội chi ngân sách rất lớn...

2. Lạm phát ngoại nhập, hình thành trên cơ sở lạm phát của thế giới. 60% – 80% nguyên liệu của các mặt hàng xuất khẩu chủ lực phải nhập khẩu cộng dồn vào khiến chi phí “đầu vào” lớn, dồn vào giá thành trong nước. Việc điều hành chính sách tiền tệ năm 2007 không chặt chẽ cộng thêm những nới lỏng về tài chính lại dồn tiếp sang năm 2008.

3. Lạm phát chi phí đẩy. Loại lạm phát này liên quan chủ yếu đến việc giảm kiểm soát hành chính các mặt hàng là đầu vào quan trọng của nền kinh tế (xăng dầu, điện, than, thép). Tương tự như những năm 1986 – 1990, do giảm kiểm soát các mặt hàng tiêu dùng, gạo..., đã tạo ra một cú sốc về giá. Đến nay là cú sốc thứ hai, bắt đầu từ đầu năm 2007 bằng việc giảm kiểm soát 4 mặt hàng lớn, làm cộng dồn chi phí đầu vào. Đáng lẽ phải làm ngược lại, phải tự do cạnh tranh rồi giảm kiểm soát nhưng VN lại cho tự do theo giá thị trường nhưng doanh nghiệp Nhà nước vẫn độc quyền. Do đó, sự bất cập được nhân đôi.

Lạm phát chi phí đẩy còn do tăng lương, tăng các chi phí đầu vào khác do đầu tư mở rộng. Việc đầu tư mở rộng dứt khoát phải tăng thêm nhu cầu về nhân lực, đất đai... Đầu vào tăng dồn sang đầu ra, tạo nên mặt bằng giá mới.

4. Lạm phát cầu - kéo. Loại lạm phát này liên quan đến mở rộng đầu tư, các yếu tố tác động khách quan như thời tiết khắc nghiệt, mất mùa, dẫn đến làm lệch cung - cầu. Khi bị lệch cung - cầu, đáng lẽ phải cho nhập khẩu bổ sung thì VN lại không thực hiện.

. Năm 2007, lạm phát được quy ra nguyên nhân chính từ giá thế giới tăng cao. Nhưng ở những nước có điều kiện, đặc điểm tương tự, dù lạm phát của họ cũng ở mức kỷ lục nhưng cũng chỉ bằng hơn một nửa so với VN?

- Các nước khác chỉ có lạm phát ngoại nhập từ nước ngoài mà họ không chịu ảnh hưởng của lạm phát chi phí đẩy, lạm phát cầu - kéo, không có lạm phát tiền tệ. Còn VN, cùng một lúc chịu sự tác động của 4 loại lạm phát khác nhau như tôi đã phân tích.

Lãi suất ngân hàng 16%/năm mới là thực dương

. Đã bắt được bệnh, vậy biện pháp trị bệnh ở thời điểm hiện nay là gì, thưa ông?

- Bốn loại lạm phát này khác nhau nên các loại giải pháp cũng tương đối khác nhau, thậm chí một số giải pháp còn xung đột lẫn nhau. Ví dụ, nếu áp dụng biện pháp kiềm chế lạm phát tiền tệ thì sẽ làm tăng lạm phát cầu - kéo.

Giải pháp nào đột phá? Trong số 19 giải pháp kiềm chế lạm phát mà Chính phủ đưa ra, có vẻ như là giải pháp “cả gói”, không trúng cái nọ thì trúng cái kia, mà không có giải pháp trọng tâm, giải pháp mang tính chất thời điểm - đây chính là “nghệ thuật bốc thuốc trị bệnh” - liều lượng ra sao, bao nhiêu thang, dùng trong bao lâu? Chính vì vậy vừa qua mới có chuyện vừa có giải pháp siết chặt tiền tệ lại vừa nới lỏng để cứu vãn thị trường chứng khoán.

Theo tôi, giải pháp kiềm chế lạm phát tiền tệ là ưu tiên số một - song việc áp dụng giải pháp này phải rất linh hoạt và áp dụng trong thời gian rất ngắn; tiếp đó là kiềm chế lạm phát chi phí đẩy.

Đối với giải pháp kiềm chế lạm phát tiền tệ, việc siết chặt như vừa qua vẫn chưa đủ. Tính từ năm 2007 đến nay, lạm phát đã ở mức 15,67%, nên lãi suất ngân hàng hiện nay đang là 12%/năm vẫn còn thấp; để thực dương, lãi suất tiền gửi ngân hàng phải ở mức 16%/năm. Điểm rất quan trọng là trong các giải pháp kiềm chế Chính phủ đưa ra, có việc nâng cao hiệu quả việc sử dụng vốn đầu tư.

Đối với giải pháp kiềm chế lạm phát chi phí đẩy, việc giảm kiểm soát trước khi cho phép tự do cạnh tranh là một sai lầm, hiện đã bắt đầu được sửa sai bằng cách khống chế giá đối với điện, than.

Còn với lạm phát cầu - kéo, tôi rất ngạc nhiên tại sao lại không có những sự bổ sung kịp thời mà lương thực thực phẩm chiếm tỉ trọng rất lớn trong chỉ số giá? Chẳng hạn, giá thịt gà, heo có thời điểm lên đến 100.000 đồng/kg, tại sao không nhập khẩu trong thời gian ngắn vì đùi gà Mỹ rất ngon, bảo đảm chất lượng và giá chỉ có 20.000 đồng/kg; hoặc tạo ra cầu thay thế? Việc nhập khẩu này ảnh hưởng không đáng kể đến tình trạng nhập siêu. Tại sao ô tô thì được phép nhập khẩu, còn thịt gà thì không!

. Theo ông, tại sao lại xảy ra tình trạng này?

- Hiện nay đang thiếu một cơ chế bảo vệ lợi ích quốc gia. Thời gian qua, Chính phủ phải đi hỏi từng “ông” một, hỏi ngân hàng thì ngành này đổ lỗi cho tài chính; tương tự, ngành tài chính cũng lại đổ lỗi cho cơ quan khác. Các “ông” ấy không chịu ngồi với nhau cùng một lúc để Chính phủ hỏi “ba mặt một lời”, cuối cùng chính sách cứ được ông này lại hỏng ông kia. Do đó, cần phải có một cơ quan điều phối có vị trí cao hơn Hội đồng Chính sách tiền tệ quốc gia (cơ quan chỉ mang tính chất tư vấn), cao hơn các lợi ích cục bộ như vậy.

. Bóng dáng của khủng hoảng là hiện hữu? VN chưa hẳn đã là tăng trưởng nóng, vì Trung Quốc đã tăng trưởng nóng trên 10% trong một thời gian dài, trong khi VN mới chỉ ở mức cao trong vài năm gần đây?

- Đây là một câu hỏi rất nhạy cảm. Các học giả ĐH Harvard cảnh báo Chính phủ về 8/10 nguy cơ khủng hoảng đã xuất hiện, nhưng mới ở giác độ khủng hoảng về tài chính, tiền tệ.

Tăng trưởng nóng của VN khác Trung Quốc, khác thế giới, đó không phải nóng dựa trên sự tăng trưởng bền vững – khu vực kinh tế ngoài Nhà nước tăng trưởng thực sự và không ảnh hưởng gì tới ngân sách Nhà nước, tới vay nợ, thất thoát. Tăng trưởng hiện nay của VN dựa trên khu vực kinh tế Nhà nước rất lớn nhưng hiệu quả không cao – đó là một nguy cơ. Nếu càng dành được nhiều vốn ODA để Nhà nước đứng ra đầu tư thì càng nguy hiểm cho tương lai (thất thoát, hiệu quả thấp, chất lượng thấp, thu hồi vốn chậm...), càng tăng trưởng nóng, nguy cơ đổ vỡ càng lớn.

. Hiện nay hệ số ICOR (số vốn đầu tư cần thiết để tạo ra 1 đồng tăng trưởng thêm trong GDP) của các nước trong khu vực thấp hơn VN rất nhiều, đó cũng là một minh chứng cho việc chất lượng, hiệu quả tăng trưởng chưa cao?

- Hiện nay hệ số ICOR của Hàn Quốc là 3, để đạt tốc độ tăng trưởng GDP 7,9%/năm; Trung Quốc tăng trưởng 9,7%, ICOR là 4; lãnh thổ Đài Loan là 9,7% và 2,7. Chỉ số ICOR của VN hiện bình quân là 4,4, còn tính riêng khu vực Nhà nước là 8. Tất nhiên đầu tư của Nhà nước là đầu tư công, chủ yếu vào hạ tầng nên tốn kém, không thể có lãi nhanh... Đây là bằng chứng gián tiếp cho thấy tính kém bền vững của đầu tư công.

Hiện nay khoản chi ngân sách Nhà nước dựa trên tăng thu ngân sách, bán tài nguyên, xuất khẩu thô, tăng đô la để chi..., tất cả những khoản này đều không bền vững. Cơ chế kiểm soát dòng đầu tư công phải có hiệu quả. Khi mà một dự án đầu tư bị thất thoát, lãng phí tới 30% thì không thể nói là đầu tư hiệu quả, lành mạnh, không thể nói là không khủng hoảng.

Không thể nói TTCK nguy kịch!

. Theo ông thì đây là thời điểm phải có sự lựa chọn đau đớn, không thể nào vừa kiềm chế lạm phát vừa cứu thị trường chứng khoán (TTCK)?

- TTCK theo logic chỉ sụp đổ khi các doanh nghiệp phát hành cổ phiếu sụp đổ, khó khăn. Còn hiện nay, các doanh nghiệp niêm yết trên TTCK vẫn bình thường, đang làm ăn tốt, họ không hề lo sợ việc cổ phiếu của mình tụt giảm. Việc chứng khoán lên xuống theo tâm lý thì các nhà đầu tư phải chịu, coi như đây là một bài học về đầu tư vào TTCK.

Hiện nay cũng không có biện pháp nào để “cứu” TTCK cả, bởi nếu dùng tiền Nhà nước mua vào thì càng vô lý, còn vốn của Tổng Công ty Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) cũng chỉ có hạn. Do đó, chỉ còn “cứu” bằng cách cung cấp thông tin thật, phân tích cho nhà đầu tư những điểm tác động đến giá cả thật. Trên thế giới, trong quá trình phát triển 100% các TTCK đều có những lần sụp đổ. Việc sụp đổ này có thể do luật pháp không rõ, kiểm soát lỏng lẻo. TTCK VN hiện nay bị tác động không phải lý do trên mà do đám đông các nhà đầu tư gây hoảng loạn.

Theo : NLD- Thái An thực hiện