Tầm nhìn xa của Bác Hồ

Từ năm 1961 đến 1965, ở miền Nam nước ta, đế quốc Mỹ đang tiến hành chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, đứng trước nguy cơ bị thất bại hoàn toàn. Đối với miền Bắc, chúng đẩy mạnh các hoạt động phá hoại theo một chương trình do Hội đồng An ninh quốc gia Mỹ vạch ra (Nghị quyết NSC 52 ngày 11-5-1961). Trước âm mưu mới rất thâm độc của đế quốc Mỹ, trong bối cảnh quốc tế phát triển rất phức tạp, Trung ương Đảng ta đã họp và ra Nghị quyết 9 lịch sử (tháng 12-1963).

Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm Đại đội 130 trung đoàn pháo cao xạ 260 nhân dịp Tết Giáp Thìn (13-2-1964). Người căn dặn: “Các chú phải kiên quyết bắn rơi máy bay địch nếu chúng xâm phạm miền Bắc nước ta”. Ảnh tư liệu

Ngày 27-3-1964, tại Hà Nội, Bác Hồ đã triệu tập Hội nghị Chính trị đặc biệt. Bác nhấn mạnh nhiệm vụ của quân dân miền Bắc: “… Phải củng cố quốc phòng, giữ gìn trật tự trị an, luôn luôn cảnh giác, sẵn sàng đập tan mọi hoạt động khiêu khích và phá hoại của đế quốc Mỹ và bọn tay sai của chúng. Phải hết lòng ủng hộ cuộc đấu tranh yêu nước của đồng bào miền Nam…”. Có thể nói, đây là “Hội nghị Diên Hồng” của dân tộc Việt Nam ở thời đại Hồ Chí Minh.

Trước đó chỉ hơn một tháng, ngày 13-2-1964 (mồng một Tết Giáp Thìn), Quân chủng Phòng không-Không quân (PK-KQ) có vinh dự lớn được đón Bác về thăm và giao nhiệm vụ, tại Đại đội 130, Trung đoàn 260 pháo cao xạ bảo vệ Thủ đô. Bác nói: “… Đế quốc Mỹ còn nhiều âm mưu thâm độc. Các chú phải luôn luôn cảnh giác và lúc nào cũng sẵn sàng chiến đấu. Phải kiên quyết bắn rơi máy bay địch nếu chúng liều lĩnh xâm phạm vùng trời miền Bắc nước ta”. Với bộ đội Hải quân, từ đầu năm 1961, Bác Hồ đã căn dặn: “Ngày trước ta chỉ có đêm và rừng, ngày nay ta có ngày, có trời, có biển. Bờ biển ta dài, tươi đẹp; ta phải biết giữ gìn lấy nó”.

Tình hình cả nước diễn biến rất khẩn trương. 17 giờ ngày 7-5-1964, Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Quân ủy Trung ương đến kiểm tra công tác chuẩn bị chiến đấu của Đại đội 7, Trung đoàn 220 pháo cao xạ bảo vệ Hà Nội. Khi cán bộ, chiến sĩ đã có mặt trong hội trường, Đại tướng xem đồng hồ rồi nói: “Đúng là 17 giờ 30 phút. Tôi chọn giờ này đến thăm các đồng chí. Đúng vào giờ này cách đây 10 năm, quân đội viễn chinh Pháp cùng tên tướng Đờ-cát tại Điện Biên Phủ đã đầu hàng. Pháo cao xạ lúc đó rất trẻ nhưng chiến đấu rất dũng cảm, mưu trí, đã bắn rơi nhiều máy bay địch, góp phần quan trọng vào chiến thắng Điện Biên Phủ… Rồi đây, nếu đế quốc Mỹ liều lĩnh cho máy bay xâm phạm vùng trời Tổ quốc, các đồng chí phải thực hiện lời dạy của Bác Hồ: kiên quyết bắn rơi thật nhiều máy bay địch”.

Ngày 1-6-1964, Thượng tướng Văn Tiến Dũng, Ủy viên Bộ Chính trị, Tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam ra lệnh báo động sẵn sàng chiến đấu cho toàn lực lượng vũ trang. Ngày 29-6-1964, Bộ Chính trị ra Chỉ thị số 81/CT-TƯ về “Tăng cường sẵn sàng chiến đấu, phá tan âm mưu khiêu khích đánh phá miền Bắc của không quân địch”, trong đó nêu rõ: “… Chúng đang chuẩn bị và trước sau sẽ tập kích bằng đường biển và đường không vào miền Bắc nước ta. Vì vậy toàn Đảng, toàn quân, toàn dân cần nâng cao cảnh giác để sẵn sàng chiến đấu, kịp thời đập tan âm mưu liều lĩnh của địch, kịp thời giáng cho chúng những đòn đích đáng nếu chúng dám liều lĩnh khiêu khích và phá hoại miền Bắc. Cần chấn chỉnh và tăng cường hệ thống phòng không bảo vệ những địa điểm quan trọng, lấy Bộ đội Phòng không làm nòng cốt kết hợp với việc phát động một phong trào rộng rãi bắn máy bay địch bằng mọi thứ súng của bộ binh và lực lượng dân quân tự vệ”.

Chuẩn bị chu đáo để đối phó thắng lợi với kế hoạch chiến lược Giôn-xơn-Mắc Na-ma-ra

Chấp hành chỉ thị của Bác Hồ và của Bộ Chính trị, toàn dân toàn quân miền Bắc đã hăng hái tham gia phong trào thi đua sôi nổi: “Mỗi người làm việc bằng hai”, phát triển kinh tế, củng cố quốc phòng vững mạnh, chuẩn bị đề phòng các cuộc tập kích bằng không quân, hải quân địch. Lực lượng Hải quân, Phòng không-Không quân được bố trí sẵn sàng chiến đấu ở các khu vực trọng điểm. Việc huấn luyện và tổ chức hỏa lực của dân quân tự vệ bắn máy bay địch bay thấp được triển khai rộng rãi. Đảng ủy Quân chủng PK-KQ ra Nghị quyết: “Muốn bắn rơi máy bay địch trước hết phải bắn rơi tư tưởng hữu khuynh tiêu cực”, lãnh đạo rèn luyện bộ đội, xây dựng tinh thần dám đánh, quyết định thắng. Chế độ trực ban chiến đấu được gấp rút tăng cường, chỉ duy trì 2 cấp: cấp 1 và 2, bỏ cấp 3. Quân chủng PK-KQ, lực lượng nòng cốt của cuộc chiến tranh nhân dân đất đối không đã sẵn sàng bước vào cuộc chiến đấu mới.

Tháng 12-1963, Mỹ đề ra kế hoạch chiến lược Giôn-xơn-Mắc Na-ma-ra nhằm bình định miền Nam Việt Nam trong hai năm 1964-1965, gồm 5 điểm trong đó điểm 5 là: “Đẩy mạnh hoạt động phá hoại miền Bắc, kể cả hoạt động tiến công vũ trang khi cần, nhằm ngăn cản việc chi viện của Bắc Việt cho Việt Cộng ở miền Nam”. Từ đầu tháng 1-1964, bộ ba Rô-xtâu (người đứng đầu Hội đồng vạch ra kế hoạch đối thoại của Nhà trắng), Mắc Na-ma-ra, Tay-lo đã bàn bạc cụ thể thêm kế hoạch đánh phá miền Bắc, thống nhất 3 bước, bản kế hoạch mang tên Rô-xtâu 6. Bước 1: Mang tên 34-A: Dùng máy bay U2 do thám Bắc Việt Nam, dùng biệt kích đường biển và đường không phá rối ngày càng tăng trong cả năm 1964. Bước 2: Dùng tàu chiến tuần tra vùng vịnh Bắc Bộ, vừa theo dõi phản ứng của hải quân đối phương, vừa hỗ trợ cho 34-A. Bước này mang tên DESOTO. Bước 3: Nếu Bắc Việt phản ứng với 34-A và DESOTO thì lập tức cho không quân ném bom các đầu mối giao thông trên biên giới Việt-Lào, đồng thời chuẩn bị sẵn sàng tiến công bắc Vĩ tuyến 17 bằng không quân và hải quân.

Kế hoạch này được Tổng thống Mỹ chấp thuận, với điều kiện phải tìm ra cớ gì mới được phép thực hiện bước 3.

Ngày 17-4-1964, Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân Mỹ thông qua kế hoạch 37-64 chọn 94 mục tiêu ở miền Bắc Việt Nam để ném bom, khi được lệnh. Từ ngày 31-5 đến 2-6-1964 các quan chức cấp cao của Nhà trắng và Lầu năm góc kéo nhau đến họp ở Hô-nô-lu-lu bàn bạc về kế hoạch đánh phá miền Bắc, thống nhất hai nội dung:

- Thông qua các bước khiêu khích miền Bắc trong 30 ngày.

- Thông qua bản dự thảo nghị quyết đưa ra trình Quốc hội để được phép mở rộng chiến tranh bằng không quân ra bắc Vĩ tuyến 17.

Ngày 18-6-1964, đại diện Ca-na-đa trong Ủy ban quốc tế đến gặp Thủ tướng Phạm Văn Đồng, chuyển “ý kiến của Mỹ” về việc đánh phá miền Bắc của không quân Mỹ sẽ dẫn đến “cảnh tàn phá hết sức ghê gớm”!

Thắng lớn trận đầu

Cuối tháng 7-1964, màn kịch leo thang đánh phá miền Bắc Việt Nam bắt đầu. Ngày 30-7, chúng cho tàu khu trục Mad-dox hiện đại, trang bị nhiều vũ khí, khí tài điện tử tuần tiễu trong vịnh Bắc Bộ thuộc vùng biển nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Cùng ngày, một số tàu biệt kích của quân ngụy Sài Gòn bắn phá các đảo Hòn Mê, Hòn Ngư (Thanh Hóa, Nghệ An). Ngày 31-7, nhiều máy bay T28 cất cánh từ Thái Lan sang bắn phá Đồn Biên phòng Nậm Cắn, ngày hôm sau oanh tạc làng Noọng Dẻ, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An.

Ngày 2-8-1964, tàu Mad-dox tiến sâu hơn lên phía bắc, vào hải phận nước ta, giữa Hòn Mê và Lạch Trường, tỉnh Thanh Hóa. Đồng thời 4 tàu biệt kích quân ngụy bắn phá các đảo Hòn Mê và Hòn Ngư, bị bộ đội trên đảo bắn trả, phải bỏ chạy. 1 giờ 00 phút ngày 2-8, Phân đội 3 (gồm 3 tàu phóng lôi loại nhỏ, số 333, 336, 339 thuộc Đoàn 135 hải quân do đồng chí Nguyễn Xuân Bột chỉ huy được lệnh cơ động từ cảng Vạn Hoa (Quảng Ninh) đến đảo Hòn Mê lúc 12 giờ 30 phút. 14 giờ phát hiện tàu Mad-dox, người chỉ huy Phân đội 3 nhận lệnh xuất kích từ Sở chỉ huy Bộ tư lệnh Hải quân, do đồng chí Nguyễn Bá Phát làm Tư lệnh.

Tàu Mad-dox phát hiện các tàu ta đang truy đuổi, liền chạy về cửa Ba Lạt, Nam Định. Chúng dùng pháo tàu bắn dữ dội, 5 máy bay địch liên tục xả rốc-két xuống các tàu ta.Tàu 336 bị trúng đạn, thuyền trưởng Phạm Văn Tự hy sinh. Tàu 339 bị vỡ ống thoát hơi máy trái. Cả 2 tàu phải thả trôi, vừa tập trung sửa chữa hỏng hóc trên tàu vừa ngoan cường đánh trả máy bay địch.

Chỉ còn tàu 333, đồng chí Nguyễn Xuân Bột trực tiếp chỉ huy, tăng tốc độ tối đa lao vào phía tàu Mad-dox. Khi cách tàu địch 0,6 hải lý, tiếp cận được mạn phải của nó ở góc độ 80, tàu ta tiến công, vừa bắn quét mạn tàu địch vừa phóng ngư lôi. Một quả ngư lôi phát nổ ngay mũi tàu địch, khói bốc lên mù mịt. Toàn bộ cán bộ, chiến sĩ nhảy lên reo mừng. Tàu địch phải chạy ra xa. Trời sẩm tối, tàu 333 quay lại tìm được tàu 336, kéo về đến Sầm Sơn lúc 24 giờ. Tàu 339 đã về đến Hòn Nẹ.

Ngày 4-8, hai tàu khu trục Mad-dox và Tơ-nơ-giơi lại chạy vào hải phận miền Bắc Việt Nam với mệnh lệnh phải khiêu khích tới mức buộc tàu đối phương nổ súng để tổng thống Mỹ có cớ tiến công nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Ngày đó, ở vịnh Bắc Bộ sóng to, gió lớn càng về đêm thời tiết càng xấu, trời tối đen. Ta bình tĩnh theo dõi mọi hành động của địch, không có hoạt động quân sự nào.

Sáng ngày 4-8-1964, các trạm ra-đa phòng không của các Trung đoàn 290, 291 liên tục phát hiện và thông báo về sở chỉ huy nhiều tốp máy bay địch cách bờ biển Khu 4 từ 50 đến 150km. Tại Sở chỉ huy Quân chủng PK-KQ, các đồng chí: Phùng Thế Tài, Tư lệnh; Đặng Tính, Chính ủy; Nguyễn Quang Bích, Lê Văn Tri, Phó tư lệnh; Nguyễn Xuân Mậu, Phó chính ủy và các thủ trưởng cơ quan đều có mặt.

11 giờ 50 phút, Cục Tác chiến truyền đạt lệnh của Tổng Tham mưu trưởng đến đồng chí Nguyễn Quang Bích - người trực chỉ huy: “Tổng thống Mỹ Giôn-xơn đã lệnh cho không quân đánh trả đũa vào một số mục tiêu ở miền Bắc. Các đơn vị phải sẵn sàng chiến đấu, bắn rơi máy bay địch”. Lực lượng toàn quân chủng lần lượt được chuyển lên trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao nhất: cấp 1.

(còn nữa)

Thiếu tướng NGUYỄN VĂN NINH

Nguyên Phó cục trưởng Cục Tác chiến, Bộ Tổng tham mưu