QĐND - So với các đồng chí từng làm công tác dân vận-mặt trận, tôi có may mắn và hạnh phúc hơn vì liên tục được giúp việc cho nhiều đồng chí Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam, trong đó thời gian dài nhất là giúp việc và làm thư ký cho đồng chí Hoàng Quốc Việt, nguyên Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam.

Trong Lời điếu của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định công lao to lớn của đồng chí Hoàng Quốc Việt (đồng chí mất ngày 25-12-1992) đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc: Đồng chí là một trong những Ủy viên Trung ương lâm thời đầu tiên của Đảng ta; nhà lãnh đạo có uy tín lớn của Đảng, Mặt trận, nhân dân và quân đội; nguyên Bí thư Xứ ủy Bắc Kỳ; nguyên Ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương; nguyên Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, nay là Đảng Cộng sản Việt Nam; nguyên Chủ tịch Tổng Công đoàn Việt Nam, Ủy viên Thường vụ Liên hiệp Công đoàn thế giới; nguyên Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao; nguyên đại biểu Quốc hội từ khóa II đến khóa VII; nguyên Chủ tịch Hội Hữu nghị Việt-Trung; nguyên Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam. Tháng 5-1983, tại Đại hội đại biểu MTTQ Việt Nam lần thứ hai, đồng chí được suy tôn Chủ tịch danh dự Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam. Đồng chí là người thay mặt Thường vụ Trung ương Đảng khai sinh ra Cứu quốc quân II và Cứu quốc quân III-tổ chức tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam ngày nay; là một trong những học trò trung thành và xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một trong những lãnh tụ lâu năm nhất của giai cấp công nhân và phong trào Công đoàn Việt Nam, là nhà hoạt động có uy tín lớn trong phong trào công nhân và công đoàn thế giới...

Đồng chí Hoàng Quốc Việt. Ảnh tư liệu.

Đồng chí Hoàng Quốc Việt tên thật là Hạ Bá Cang, sinh ngày 28-5-1905, tại làng Đáp Cầu, tổng Đỗ Xá, huyện Võ Giàng, nay là phường Đáp Cầu, TP Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh. Là con út của một gia đình nhà Nho nghèo, đông con, mẹ mất sớm, cha già yếu, nhờ sự nuôi dưỡng, chăm sóc của các anh, các chị, đồng chí mới có điều kiện để học hết cao đẳng tiểu học, rồi thi đỗ vào Trường Bách nghệ Hải Phòng. Sống giữa thành phố Cảng, được chứng kiến tận mắt thực tại xã hội đương thời, cậu học sinh năm thứ ba Trường Bách nghệ Hải Phòng Hạ Bá Cang sớm hiểu được nỗi cay đắng của một dân tộc bị nô lệ và càng căm thù bọn thực dân bán nước. Điều đó đã thôi thúc Hạ Bá Cang và bạn bè cùng chí hướng tham gia các phong trào yêu nước như đòi thả Phan Bội Châu, đòi để tang Phan Chu Trinh... Năm 1925, Hạ Bá Cang bị đuổi khỏi trường vì đã tham gia vào đoàn biểu tình chặn đường tên toàn quyền Pháp Va-ren từ Đồ Sơn về Hải Phòng, đưa yêu sách đòi thả Phan Bội Châu. Trở về quê, đồng chí đã đến với Ngô Gia Tự, người thanh niên nổi tiếng trường Bưởi cũng đã bị đuổi học vì đứng đầu cuộc đấu tranh của học sinh Hà Nội chống xử án Phan Bội Châu.

Xuất thân từ một gia đình nghèo, suốt đời lao động làm thuê, từng nếm mùi tủi nhục của người dân mất nước, lại sớm được kết bạn với một người đầy nhiệt huyết, yêu nước, thương dân như Ngô Gia Tự, Hạ Bá Cang đã nhanh chóng đến với những tư tưởng lớn của Nguyễn Ái Quốc để thực hiện ước nguyện đấu tranh giải phóng dân tộc. Trong những năm 1925-1927, Hạ Bá Cang vào làm thợ mỏ ở Phấn Mễ (Bắc Thái), Mạo Khê (Quảng Ninh), rồi đồng chí trở về Hải Phòng làm thợ nguội ở Nhà máy cơ khí Ca-rông với hy vọng tìm được đoàn thể cách mạng ở nơi đông đúc thợ thuyền. Tại đây, đồng chí đã gặp lại Lương Khánh Thiện, Nguyễn Đức Cảnh, Trịnh Đình Cửu, những người đã giúp đỡ và kết nạp ông vào Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Đầu năm 1929, do hoạt động trong phong trào cách mạng, Hạ Bá Cang bị đuổi khỏi nhà máy. Từ đây, ông bước vào cuộc đời của một nhà hoạt động cách mạng chuyên nghiệp. Sau này, ông đã viết trong hồi ký "Chặng đường nóng bỏng" của mình: "Tôi được sống những ngày tuyệt đẹp của tuổi thanh xuân, đã tìm thấy lý tưởng, được tôi luyện trong những cuộc đấu tranh giai cấp sôi động, được chứng kiến và tham gia chuyển những chi bộ Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội thành những chi bộ cộng sản đầu tiên, được góp phần mình chuẩn bị cho Đông Dương Cộng sản Đảng ra đời".

Đồng chí Hoàng Quốc Việt với công nhân ngành xây dựng Hà Nội. Ảnh tư liệu.

Năm 1929, Hạ Bá Cang được Trung ương Đảng cử vào Nam để cùng các đồng chí Ngô Gia Tự, Lê Văn Lương tuyên truyền mở rộng ảnh hưởng của Đảng. Tại đây, đồng chí đã lăn lộn, gắn bó với những người thợ và bà con lao động nghèo ở xóm Chiếu, Khánh Hội, Thủ Thiêm. Cuối năm 1929, đồng chí được cử sang Pháp để liên hệ với Đảng Cộng sản Pháp và đề nghị bạn giúp đỡ Đảng ta trong phong trào đấu tranh cách mạng. Chuyến đi này đã tạo dựng đường dây liên lạc bí mật giữa Đảng ta với Đảng Cộng sản Pháp. Về đến Sài Gòn, biết tin Đảng Cộng sản Đông Dương được thành lập trên cơ sở hợp nhất các đảng cộng sản hiện có ở các xứ, Hạ Bá Cang lại được cử thay mặt bộ phận Đông Dương Cộng sản ở Nam Kỳ ra dự hội nghị thực hiện việc hợp nhất. Nhưng đến Hải Phòng, khi vừa gặp đồng chí Trần Phú thì ông đã bị bắt cùng nhiều đồng chí khác. Do vậy, đến tháng 10-1930, hội nghị hợp nhất mới tổ chức được. Mặc dù Hạ Bá Cang vẫn đang ở trong tù, nhưng hội nghị vẫn nhất trí cử ông vào Ban Chấp hành Trung ương lâm thời. Đầu năm 1931, Tòa án đề hình Kiến An kết án ông tù chung thân biệt xứ. Ông bị đưa đi giam ở Nhà tù Hỏa Lò, Hà Nội, rồi lại bị đày ra Côn Đảo cùng các đồng chí: Nguyễn Văn Cừ, Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ…

Mùa thu năm 1936, do thắng lợi của Mặt trận nhân dân Pháp, Hạ Bá Cang được ra tù và trở về đất liền. Từ đó đến năm 1945, trong gần 10 năm, với đôi chân khập khiễng, ông đã dọc ngang khắp đất nước để móc nối, gây dựng, củng cố và phát triển cơ sở Đảng, bất chấp sự rình rập, giăng bẫy ngày đêm của kẻ thù. Ông được phân công cùng đồng chí Trường Chinh phụ trách các tờ báo của Đảng ở Bắc Kỳ. Năm 1937, đồng chí được cử làm Bí thư Xứ ủy Bắc Kỳ; tháng 3-1938, được cử đi dự Hội nghị Trung ương họp ở Hóc Môn, Bà Điểm bàn về công tác mặt trận của Đảng trong tình hình mới, nhằm tập hợp lực lượng quần chúng chống bọn phản động thuộc địa, chống chiến tranh phát xít. Tuy nhiên, khi về đến Hà Nội, Hạ Bá Cang và nhiều đồng chí khác bị bọn thực dân đế quốc trục xuất khỏi Hà Nội.

Sau đó, Hạ Bá Cang tiếp tục được phân công về nông thôn gây cơ sở chuẩn bị cho giai đoạn đấu tranh mới. Giai đoạn 1941-1945, với cương vị Thường vụ Trung ương Đảng, kiêm Bí thư Xứ ủy Bắc Kỳ, ông đã lên rừng, xuống đồng bằng, vào Nam, ra Bắc để gây dựng cơ sở cách mạng. Tại Hội nghị Trung ương lần thứ tám của Đảng vào tháng 5-1941 do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc triệu tập để phát triển và hoàn chỉnh đường lối của Đảng về vấn đề giải phóng dân tộc, lập ra Việt Nam Độc lập Đồng minh (Việt Minh), Hạ Bá Cang được bầu vào Thường vụ Trung ương. Giữa năm 1945, ông cùng các đồng chí đại diện Mặt trận Việt Minh tiến hành chuyến công tác ngoại giao đầu tiên, đầy nguy hiểm sang Trung Quốc nhằm thăm dò ý đồ quân Tưởng Giới Thạch. Tên gọi Hoàng Quốc Việt gắn bó với ông từ chuyến đi đó.

Đồng chí Hoàng Quốc Việt (đứng giữa) thăm lại Chiến khu Việt Bắc, năm 1977. Ảnh tư liệu.

Cũng năm 1945 lịch sử, đồng chí Hoàng Quốc Việt được Thường vụ Trung ương, Đại hội Quốc dân họp tại Tân Trào, Mặt trận Việt Minh và Bác Hồ cử đi kiểm tra tình hình chuẩn bị khởi nghĩa ở nhiều tỉnh từ Bắc vào Nam và giúp Xứ ủy Nam Kỳ củng cố chính quyền cách mạng, mở rộng Mặt trận Dân tộc thống nhất. Đây là một chuyến công tác đầy bất trắc, hiểm nguy, nhưng như đồng chí từng tâm sự: "Chuyến đi có một không hai, một chuyến đi đầy hạnh phúc đối với cuộc đời của một chiến sĩ cách mạng". Sau này, trong suốt cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đồng chí Hoàng Quốc Việt được Đảng, Chính phủ và Bác Hồ giao nhiều trọng trách, đặc biệt là việc chăm lo công tác mặt trận và công tác vận động quần chúng. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng năm 1951, đồng chí Hoàng Quốc Việt được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Bộ Chính trị. Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, người chiến sĩ cách mạng Hoàng Quốc Việt đã hết lòng cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, góp phần giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Với 26 năm trên liên tục đảm nhận cương vị Chủ tịch Tổng Công đoàn Việt Nam và hơn 10 năm là Phó chủ tịch Liên hiệp Công đoàn thế giới, đồng chí Hoàng Quốc Việt đã có những đóng góp to lớn trong việc xây dựng cơ chế làm chủ của công nhân, người lao động. Học tập và noi gương Bác Hồ, đồng chí góp phần rất tích cực trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tình đoàn kết quốc tế trong sáng giữa lao động các nước trên thế giới. Là Chủ tịch Hội Hữu nghị Việt-Trung, đồng chí góp phần to lớn vào việc củng cố và phát triển tình hữu nghị truyền thống giữa hai dân tộc Việt Nam-Trung Quốc. Đối với hoạt động trong bộ máy Nhà nước, đồng chí Hoàng Quốc Việt là Viện trưởng đầu tiên trong suốt 16 năm của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao.

Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng sôi nổi của mình, trải qua nhiều cương vị lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước, Mặt trận, Công đoàn… đồng chí Hoàng Quốc Việt luôn là người học trò trung thành và xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời có những cống hiến to lớn vào việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, đoàn kết các dân tộc. Với thái độ chân thành, khiêm tốn, luôn quan tâm, chăm lo và lắng nghe ý kiến của nhân dân, nhất là những vị tiêu biểu trong các dân tộc, tôn giáo, trong trí thức và các tầng lớp xã hội, đồng chí được mọi người tin yêu, kính trọng. Những ai từng làm việc, công tác, tiếp xúc với đồng chí Hoàng Quốc Việt đều có chung một ấn tượng sâu sắc về hình ảnh một người đảng viên cộng sản kiên trung, bất khuất, liêm khiết, tác phong bình dị, chân thành và cởi mở, rất quan tâm đến người lao động. Đồng chí là một cán bộ luôn kết hợp hài hòa giữa tính nguyên tắc kỷ luật với sự linh hoạt, sắc sảo và sự khoan dung, độ lượng. Đồng chí Hoàng Quốc Việt là một trong những cán bộ cấp cao vinh dự được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao Vàng khi đương chức.

-----------------------

NGUYỄN TÚC - Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam