Thực hiện Nghị quyết 27 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển công nghiệp quốc phòng trong thời kỳ mới, những năm gần đây, Viện Khoa học và Công nghệ Quân sự (KH-CNQS) liên tục “cho ra lò” những sản phẩm công nghệ góp phần nâng cao chất lượng huấn luyện, SSCĐ của các đơn vị binh chủng hợp thành. Chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với Thiếu tướng, TSKH Nguyễn Quang Bắc, Viện trưởng Viện KH-CNQS về vấn đề này.

- Thưa đồng chí Viện trưởng, nhiều nhà trường, đơn vị trong toàn quân đang rất phấn khởi đón nhận những sản phẩm công nghệ cho Viện nghiên cứu, sản xuất góp phần nâng cao chất lượng huấn luyện, SSCĐ. Đây có phải là sự chuyển hướng nghiên cứu của Viện, thưa đồng chí?

 - Trước hết, tôi khẳng định: Đây không phải là sự chuyển hướng nghiên cứu mà là sự mở rộng, tăng cường hơn nữa chất lượng nghiên cứu với thực tiễn huấn luyện, SSCĐ của quân đội ta.

Thiếu tướng, TSKH Nguyễn Quang Bắc, Viện trưởng Viện KH-CNQS.

Việc đầu tư nghiên cứu của Viện hiện nay theo phương châm "thiết thực - khả thi - chất lượng - kịp thời - hiệu quả"; tiếp tục nghiên cứu xây dựng các chương trình, kế hoạch cụ thể với các bước đi hợp lý để thực hiện có hiệu quả các nội dung đã đề ra trong các Nghị quyết của Bộ Chính trị về bảo đảm vũ khí, bảo đảm trang bị kỹ thuật, xây dựng và phát triển công nghiệp quốc phòng.

Hiện nay, chúng tôi vẫn tiếp tục đẩy mạnh các chương trình, đề tài, dự án nghiên cứu và sản xuất các sản phẩm khoa học, công nghệ cao phục vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đồng thời tích cực cử cán bộ đến tận giảng đường, bãi tập; hòa mình vào thực tế huấn luyện diễn tập, của bộ đội để tìm tòi, phát hiện, triển khai các đề tài nhằm giúp đỡ trực tiếp và có hiệu quả cho các đơn vị nâng cao  chất lượng huấn luyện, SSCĐ.

- Xin đồng chí cho biết một sổ sản phẩm đã “ra lò” từ chính những chuyến đi thực tế của cán bộ nghiên cứu?

- Có khá nhiều. Ví dụ, cán bộ nghiên cứu của Viện đã về tìm hiểu thực tế huấn luyện tại Trường Sĩ quan Lục quân I, từ đó chế tạo hệ thống thiết bị máy bia, xe bia có điều khiển và hệ thống tạo giả hỏa lực để lắp đặt cho trường bắn rút gọn, trường bắn cấp phân đội tấn công và phòng ngự. Sau khi Trường Sĩ quan Lục quân I sử dụng có hiệu quả, chúng tôi đã phối hợp với các cơ quan chức năng triển khai ứng dụng rộng rãi cho các đơn vị binh chủng hợp thành.

Một sản phẩm nữa, do chính đội ngũ cán bộ, giáo viên của Trường Sĩ quan Lục quân I đề nghị, chúng tôi đã nghiên cứu, chế tạo thành công là “Hệ thống giám sát, điều khiển và đánh giá hiệu quả huấn luyện trên thao trường”. Sản phẩm này gồm tập hợp hệ thống camera quan sát và thiết bị sở chỉ huy, hệ thống bãi mìn, hệ thống điều khiển nổ vô tuyến, hệ thống theo dõi di chuyển của các mũi quân, cánh quân.

Hiện nay, chúng tôi đang triển khai ứng dụng và phát triển các công cụ phần mềm bản đồ số và sa bàn địa hình ảo 3D trên máy tính phục vụ công tác huấn luyện tại phòng học chuyên dùng cho các nhà trường. Có thể nói, sản phẩm này có giá trị rất lớn giúp người học tiếp cận, hình dung địa hình nhanh; từ đó xây dựng tư duy chiến thuật tốt. Sản phẩm này không chỉ tốt cho các nhà trường mà cũng sẽ rất có lợi nếu được các đơn vị ứng dụng.

- Có một điểm mới mà chúng tôi nhận ra là nhiều cán bộ nghiên cứu của Viện dường như tích cực tìm hiểu bộ đội, tìm hiểu đơn vị nhiều hơn. Điều này có tác động như thế nào đến việc thực hiện nhiệm vụ của Viện, thưa đồng chí?

- Điều này có tác dụng rất tốt đến việc hoàn thành nhiệm vụ của Viện. Không chỉ bám bộ đội, bám đơn vị, mà còn phải bám sát thực tiễn đời sống xã hội nữa. Chẳng hạn, từ khi Đảng ta ra “Nghị quyết về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020”; nhiều cơ quan nghiên cứu và cán bộ nghiên cứu của chúng tôi đã trăn trở hơn, tìm đọc tài liệu nhiều hơn về vấn đề biển, đảo. Nhiều đề tài nghiên cứu các vật liệu đặc thù để sản xuất các sản phẩm công nghệ phục vụ bộ đội trên các đảo nâng cao chất lượng huấn luyện và SSCĐ đã được triển khai. Ví dụ, hệ thống máy bia bắn biển cho bộ đội Trường Sa đang được hoàn thiện, rất nhiều sản phẩm khác phục vụ diễn tập trên biển cũng sẽ được “ra lò”. Chắc chắn tới đây, chúng tôi sẽ có nhiều món quà quý gửi tặng bộ đội Trường Sa.

Ở Viện chúng tôi hiện có quy trình làm việc rất chủ động: đó là các nhóm nghiên cứu, cán bộ nghiên cứu chủ động đề xuất đề tài, công trình. Nếu thấy cần thiết và khả thi, Viện sẽ triển khai nghiên cứu, khi thấy có kết quả nhất định thì mới báo cáo Bộ để xin đầu tư.

Vừa qua, nhiều đơn vị thuộc Quân khu 5, 7, 9, Binh chủng Đặc công... đã phối hợp với chúng tôi nghiên cứu, sản xuất nhiều sản phẩm phục vụ nhiệm vụ diễn tập. Từ thành công qua sự phối hợp này đã giúp chúng tôi định hình một quy trình tổ chức nghiên cứu khoa học kỹ thuật, công nghệ, ứng dụng khoa học kỹ thuật đó là: Phải bám vào thực tiễn huấn luyện, SSCĐ để  xác định các sản phẩm cần làm, sau đó đưa các sản phẩm này vào thực tế để xác định ưu điểm, khuyết điểm rồi từ đó giải quyết các vấn đề phát sinh nhằm hoàn thiện sản phẩm.

Đó cũng là một quy trình “chuẩn” để việc nghiên cứu, ứng dụng các thành tựu khoa học – công nghệ ở Viện đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mà Đảng ủy Quân sự Trung ương và Bộ Quốc phòng giao cho Viện; tích cực góp phần đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc và đòi hỏi của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong giai đoạn tới.

- Xin cảm ơn đồng chí!


HỒNG HẢI
(thực hiện)