QĐND - Cuối tháng 4-1965, sau 2 tháng “xẻ dọc Trường Sơn”, Tiểu đoàn 6 (Trung đoàn 12, Sư đoàn 3) của chúng tôi tới huyện Vĩnh Thạnh, miền Tây tỉnh Bình Định thì tham gia đánh trận đầu tiên.
Số là, "đánh hơi" biết có lực lượng ta đứng chân ở phía Tây đèo Bồ Bồ, địch liền huy động một tiểu đoàn lính ngụy đi càn quét. Để bảo đảm bí mật bộ đội chủ lực miền Bắc mới vào, đơn vị tôi chỉ dùng một đại đội mặc quần áo bà ba, trang bị súng trường, tiểu liên AK47 ra ứng chiến (súng AK được lệnh chỉ để nấc bắn phát một). Ban đầu, địch tưởng là du kích nên ào ạt tiến công. Đại đội 1 (Tiểu đoàn 6) bất ngờ xuất kích. Địch hốt hoảng la lên: “Lính Bắc Việt. Lính Bắc Việt chúng mày ơi!” và xô nhau chạy. Trên đường truy kích địch, Hiểu hy sinh và không tìm thấy thi thể. Lúc đó tôi là xạ thủ súng B40, vừa là đảng viên, lại là đồng hương nên xung phong phụ trách tổ đi tìm Hiểu. Hai ngày lội ngang, lội dọc quanh khu đồi mọc đầy cây ngũ sắc ở hai thôn Tiên An và Tiên Hòa chúng tôi mới tìm thấy Hiểu. Hiểu hy sinh trong tư thế quỳ bắn. Đã hai ngày nhưng tư thế ấy vẫn giữ nguyên, lưng tựa vào bụi cây, mắt nhìn thẳng phía trước. Đau xót gói thi hài Hiểu, tôi thực sự bị “sốc” bởi ngay trận đầu tiên đã tận mắt chứng kiến cảnh đồng đội hy sinh.
Chẳng lâu sau, trong trận phục kích trên đường 7B, tỉnh Đắc Lắc (đoạn từ Ba Lá đến Ai Nu), tôi vẫn là xạ thủ B40 ở bộ phận khóa đuôi. Theo lệnh của trung đội trưởng, tôi lách qua các bụi cây, bò vào cách chiếc máy bay lên thẳng của địch đang đổ quân chỉ 40m. Tôi bình tĩnh lấy đường ngắm, bóp cò. Sau tiếng nổ đanh gọn, chiếc máy bay của địch trở thành đống lửa bùng cháy dữ dội. Máy bay trinh sát của địch phát hiện ra tôi liền ném mấy quả hỏa mù chỉ điểm. Lập tức, trực thăng vũ trang của địch lao tới phóng rốc-két, rồi máy bay AD6 đến ném bom. Rừng dầu, cây thưa, nhiều cỏ gianh bén lửa cháy nghi ngút. Tôi bám lấy ụ mối to như đụn rơm, hễ máy bay lao từ phía Đông, tôi vòng qua phía Tây ụ mối. Máy bay bổ nhào từ phía Bắc, tôi trườn qua phía Nam ụ mối. Quần lộn với nhau như vậy cho tới lúc nhá nhem tối, lợi dụng khói đen do địch ném bom na-pan, tôi nhanh chóng thoát ra ngoài trở về nơi xuất phát. Nhưng lúc này đơn vị đã đánh ngược lên phía đầu trận địa và trận đánh đã kết thúc, không còn tiếng súng nên tôi không xác định được hướng cơ động của đơn vị. Tôi đang hết sức lo lắng không biết đi lối nào thì có tiếng gọi: “Tích! Tích đó phải không?”.
Tôi vui mừng đến trào nước mắt vì nhận ra đó là tiếng đồng chí Tửu, Trung đội phó. Thì ra, biết tôi đang bị máy bay địch quây đánh, đơn vị cử người ở lại chờ đón, nếu tôi chết thì phải lấy được thi thể. Bộ phận anh Tửu có 3 người, trong lúc tìm tôi, đồng chí Nguyễn Văn Tụng, xạ thủ trung liên bị thương vào bụng do pháo địch bắn vu vơ. Vết thương thấu bụng rất nặng nhưng lúc đó chỉ có cách băng bó thông thường, chờ khênh về trạm phẫu. Tìm được tôi, anh Tửu rất mừng vì tôi an toàn và vì… có thêm người khênh Tụng. Chúng tôi nhắm hướng Bắc để về nơi tập kết, nhưng rừng dầu mênh mông, đi thế nào cũng không tới đường mòn dân sinh. Chúng tôi đã bị lạc. Nước uống không còn, cơm vắt đã hết. Tôi và anh Tửu chia nhau theo dấu chân lợn rừng hoặc dấu chân nai để tìm nguồn nước nhưng đều không có kết quả. Thương đến xé ruột là Tụng. Tụng theo đạo Thiên Chúa, hiền lành, ít nói, ngày thường, ai cũng quý mến. Giờ đây bị thương, khát nước, môi Tụng khô cong nứt nẻ. Tụng nói trong hơi thở khò khè: “Tích ơi! Mình chết mất nếu không có nước”. Trời tối hẳn, không dám đi tìm nguồn nước, sợ lại bị lạc, tôi sục sạo xung quanh chỗ trú tạm những thứ lá nhấm thử rồi đem về cho Tụng. Nhưng nước trong lá cũng khô khốc, chẳng đủ bù cơn khát đối với Tụng. Tôi nằm kề bên Tụng, thấy sức Tụng yếu dần do mất nhiều máu. Trước khi qua đời, Tụng khẽ nói với tôi: “Thật không ngờ mình phải chết vì khát nước. Mới được đánh có hai trận, nên Tích và anh em đánh bù cho mình nhé!”.
Chúng tôi an táng Tụng bên cạnh gốc cây săng lẻ to cao. Tôi lấy dao găm cạo một mảng vỏ cây khá rộng, rồi khắc lên đó dòng chữ: N.V.TỤNG-KIM SƠN-NINH BINH. HY SINH: 3-6-1965. Ngày hôm sau, chúng tôi vẫn không tìm được lối về đơn vị. Đói, khát làm mọi người kiệt sức. Mãi đến tối, một tổ du kích người Ba Na mới tìm được chúng tôi đang nằm lả bên con suối khô. Tôi nghĩ tới Tụng. Phải cho du kích biết nơi mai táng Tụng để sau này bàn giao cho địa phương. Anh Tửu đồng ý và cử tôi dẫn một du kích đi tìm phần mộ Tụng.
Khoảng tuần lễ sau chúng tôi lại đánh một trận phục kích nữa trên đường 7 ở phía Đông cầu Ai Nu. Tại đây, khi đang thu dọn chiến trường, tôi gặp Nguyễn Như Sính, người cùng quê. Sính kể: Lúc đang truy kích địch thì anh bị mảnh đạn M79 phạt mất một mảng hộp sọ ở vùng thị giác. Sính không thấy đau nhưng mắt tối sầm lại, máu chảy khắp mặt và cổ. Sính đang tự băng bó thì tôi tới. Sính to cao, tôi thấp bé, không thể cõng nổi. Tôi bàn với Sính để tôi dìu đi vì tôi sáng mắt. Mấy hôm sau, Sính được chuyển về tuyến sau điều trị, tôi tiếp tục hành quân cùng đơn vị chiến đấu. Từ đó, chúng tôi không gặp lại nhau.
Ngày 28-9-1965, Trung đoàn 12 phục kích trên Đường 1, đoạn từ thôn Diên Khánh tới thôn Văn Cang, xã Hoài Đức (Hoài Nhơn, Bình Định). Tiểu đoàn 5 bố trí chân núi Chóp Chài phía thôn Văn Cang. Trong trận này, Nguyễn Văn Hảo (bạn học cùng huyện với tôi), khi vận động đánh địch đã bị một mảnh đạn cối khoét vào đùi. Tôi và mấy đồng chí chạy tới. Máu từ vết thương chảy ra rất nhiều. Băng cá nhân không đủ chặn được dòng máu, tôi xé chiếc áo lót vo tròn đắp vào vết thương rồi buộc chặt lại…
Trời tối dần, đơn vị tôi được lệnh thu dọn chiến trường và làm công tác thương binh, liệt sĩ. Pháo địch bắn chặn các lối vào núi. Vượt đồi sỏi đá, tôi trượt ngang trượt dọc, Hảo tỉnh lại, biết tôi ở một đầu cáng, anh thều thào nói: “Tích đó phải không? Đừng bỏ tao mày nhé!”. “Đừng nghĩ bậy, làm gì có chuyện bỏ nhau. Pháo bắn chết cùng chết. Hãy cố chịu đau. Chúng mình sẽ đưa cậu về tới trạm phẫu”, tôi trả lời.
Pháo địch vẫn không ngớt bắn. Chúng còn thả đèn dù và cho máy bay ném bom, hòng xóa thi thể đồng bọn và để tiếp tục sát thương ta đi thu dọn chiến trường. Tôi người thấp bé (cao 1,55m, nặng 45kg). Hảo to đậm, khi bị thương càng thêm nặng. Tôi vừa mang súng vừa khênh Hảo, đó là việc làm quá sức đối với tôi. Nhưng khi lâm trận, khi gian nan, con người có sức mạnh thật kỳ diệu. Suốt 3 giờ leo dốc, vượt qua 3 ngọn đồi của núi Chóp Chài, chúng tôi cũng đưa Hảo về tới trạm phẫu của trung đoàn.
Trời đổ mưa tầm tã, chúng tôi tìm kiếm thương binh, liệt sĩ suốt hai ngày đêm. Trong đánh phục kích vận động, địa hình rộng, bộ đội quần nhau với địch trên phạm vi dài. Tới ngày thứ 3, qua mưa nắng, thi thể đã bốc mùi. Chúng tôi cứ ngửi theo mùi để tìm đồng đội, không bỏ sót một ai. Trong mỗi chúng tôi lúc bấy giờ, tình người, tình đồng chí cao quý hơn cả mạng sống của chính mình nên không một ai nản chí.
Bây giờ, về với đời thường, tôi cứ bâng khuâng nghĩ về tình đồng đội cao cả một thời trận mạc và răn dạy con cháu phải sống sao cho xứng đáng với lớp người đi trước.
Đại tá Nguyễn Văn Tích, Cựu chiến binh Sư đoàn 3