* Dự án Luật Dân quân tự vệ thống nhất, đồng bộ và phù hợp pháp luật hiện hành
* Thảo luận dự thảo Luật Người cao tuổi
Cả ngày 5-6, Quốc hội làm việc tại hội trường, nghe đọc các tờ trình và báo cáo thẩm tra dự án Luật Dân quân tự vệ, dự án Luật Viễn thông, dự án Luật Tần số vô tuyến điện. Sau đó, các đại biểu thảo luận về dự thảo Luật Người cao tuổi.
Về những ý kiến khác nhau trong dự thảo Luật Dân quân tự vệ
Đại tướng Phùng Quang Thanh, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ đọc tờ trình nêu rõ sự cần thiết, quan điểm, mục tiêu, quá trình xây dựng và nội dung cơ bản của dự án Luật Dân quân tự vệ. Luật gồm 9 chương, 68 điều, với các chương: quy định chung; tổ chức, biên chế, vũ khí, trang bị; đào tạo, bồi dưỡng tập huấn cán bộ, huấn luyện; hoạt động của lực lượng dân quân tự vệ; chế độ, chính sách; kinh phí bảo đảm; quản lý nhà nước; khen thưởng và xử lý vi phạm.
 |
| Lực lượng dân quân tự vệ thường xuyên tham gia tập luyện. Ảnh internet |
Đồng chí cũng nêu rõ quan điểm của Chính phủ trước những vấn đề còn có ý kiến khác nhau. Về các ý kiến đề nghị tên gọi của dự thảo Luật là “Luật Dân quân, Tự vệ”, “Luật Dân quân-Tự vệ” hoặc “Luật Dân quân và Tự vệ”, Bộ trưởng khẳng định: “Dân quân tự vệ” là tên gọi của các pháp lệnh năm 1996 và 2004, sử dụng trong thời gian dài, ăn sâu vào tiềm thức các thế hệ, được xã hội chấp nhận; lại phù hợp với Hiến pháp, thống nhất với Luật Quốc phòng và các luật khác. Vì vậy, Chính phủ đề nghị giữ tên gọi là “Luật Dân quân tự vệ”. Về ý kiến đề nghị kéo dài thời hạn phục vụ của dân quân nòng cốt, đồng chí cho rằng, thời hạn nghĩa vụ tham gia dân quân tự vệ là 4 năm, giảm so với quy định của Pháp lệnh hiện hành một năm, nhưng vẫn phải bảo đảm tổng thời gian huấn luyện; với các xã biên giới, thời gian này không quá 6 năm là phù hợp, không nên kéo dài hơn nữa. Tổ chức lực lượng tự vệ trong các doanh nghiệp có nhiều ý kiến khác nhau, Chính phủ đề nghị phương án: Doanh nghiệp có tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam, đã hoạt động ổn định từ 12 tháng trở lên, quy mô lao động phù hợp thì phải tổ chức lực lượng dân quân tự vệ; doanh nghiệp không có đủ điều kiện đó thì do Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định; doanh nghiệp chưa có tổ chức tự vệ thì người đứng đầu có trách nhiệm bố trí thời gian và kinh phí bảo đảm cho người lao động thực hiện nghĩa vụ tham gia dân quân tự vệ ở địa phương nơi họ cư trú. Về chế độ, chính sách đối với dân quân tự vệ hoạt động trên biển, Chính phủ cho rằng, hầu hết họ đều là lao động chính, đem lại nguồn thu nhập chính cho gia đình, vì vậy nếu hỗ trợ mức thấp sẽ chưa động viên, chưa bảo đảm công bằng. Vì vậy, đề nghị cho họ hưởng tương đương với dân quân thường trực, mức tiền ăn tương đương với chiến sĩ hoạt động trên tàu cấp 1 của bộ đội Hải quân. Về nhân sự ban chỉ huy quân sự cấp xã, theo Pháp lệnh hiện hành có 3 chức danh là chỉ huy trưởng, chính trị viên, chỉ huy phó. Chính phủ đề nghị trong dự thảo Luật quy định thêm chức danh nữa là: chính trị viên phó. Như vậy, sẽ có chỉ huy trưởng là cán bộ công chức cấp xã, thành viên ủy ban nhân dân; chính trị viên là bí thư đảng ủy (chi bộ) xã kiêm nhiệm; chỉ huy phó là cán bộ quân sự không chuyên trách (giúp chỉ huy trưởng và sẵn sàng thay mặt khi chỉ huy trưởng vắng mặt), chỉ hưởng phụ cấp, được đóng bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế; chính trị viên phó là bí thư đoàn xã kiêm nhiệm. Do vậy, sẽ không ảnh hưởng nhiều đến ngân sách. Về ý kiến đề nghị có điều khoản riêng với dân quân tự vệ biển, Chính phủ cho rằng không cần thiết vì tổ chức, hoạt động của lực lượng này đã có trong các điều khoản liên quan, các chương của dự thảo Luật.
Chính phủ cũng xác định rõ “nghĩa vụ tham gia Dân quân tự vệ” của công dân, tăng hiệu lực pháp lý cho địa phương, phù hợp với quy định của Hiến pháp. Về ngân sách bảo đảm cho huấn luyện và hoạt động của Dân quân tự vệ, Chính phủ lý giải: Đó là dân làm quân, hằng năm thời gian làm quân không nhiều, là lực lượng không chính quy, việc chăm lo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị các cấp và toàn dân. Do đó phải huy động các nguồn ngân sách từ ngân sách trung ương, địa phương, kinh phí bảo đảm của doanh nghiệp, quỹ quốc phòng và các nguồn thu khác theo quy định của pháp luật. Về sự cần thiết xây dựng quỹ quốc phòng-an ninh, Chính phủ xác định rõ quỹ này thừa kế truyền thống từ các cuộc kháng chiến trước đây, phù hợp phương châm xây dựng lực lượng Dân quân tự vệ “dân bàn, dân cử, dân chăm lo”, thể hiện trách nhiệm xây dựng lực lượng vũ trang quần chúng ở địa phương, cơ sở. Quỹ chủ yếu do cơ sở thu và chi hỗ trợ Dân quân tự vệ huấn luyện và hoạt động, quản lý theo quy định của pháp luật. Về sự cần thiết phải cấp trang phục, sao, mũ cho Dân quân tự vệ, Chính phủ nêu rõ: Sao, mũ của Dân quân tự vệ có từ thời kỳ chống chiến tranh phá hoại của Đế quốc Mỹ ở miền Bắc, rồi được dùng trong huấn luyện và hoạt động cho đến nay. Trang phục cũng được các địa phương cấp phát từ khi có Pháp lệnh Dân quân tự vệ năm 1996, cho dù đến Pháp lệnh năm 2004 mới quy định. Là thành phần của lực lượng vũ trang, Dân quân tự vệ cần có sao, mũ và trang phục của mình, trong các hoạt động, huấn luyện, diễn tập không thể dùng thường phục.
Chính phủ cũng đã gửi tới Quốc hội văn bản thẩm định dự án Luật của Bộ Tư pháp; Báo cáo tổng kết 12 năm thi hành Pháp lệnh Dân quân tự vệ 1996- 2008; Báo cáo đánh giá tác động của Luật Dân quân tự vệ khi ban hành.
Quốc hội cũng đã nghe Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng- an ninh Lê Quang Bình đọc báo cáo thẩm tra dự án Luật.
Cần khẳng định vị trí Hội Người cao tuổi trong hệ thống chính trị
Vị trí của Hội Người cao tuổi trong hệ thống chính trị là vấn đề được các đại biểu rất quan tâm khi thảo luận dự thảo Luật Người cao tuổi. Nhiều đại biểu đề nghị quy định Hội Người cao tuổi là tổ chức chính trị – xã hội. Lý lẽ nêu lên là, người cao tuổi Việt Nam là nền tảng của gia đình, nguồn lực của đất nước, ngày càng đông, sống ở cơ sở; trung thành với Đảng, với dân tộc, kinh qua chiến đấu và sản xuất, giữ vai trò quan trọng trong việc vận động gia đình và cộng đồng chấp hành chủ trương, pháp luật của Nhà nước; ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc tham gia xây dựng Đảng, bảo vệ chính quyền, giữ vững ổn định chính trị ở cơ sở, tham gia chống tham nhũng, lãng phí, tham gia giải quyết các tệ nạn xã hội... Với tính chất là tổ chức tập hợp, đoàn kết, đại diện cho ý chí, nguyện vọng của người cao tuổi, Hội Người cao tuổi Việt Nam ngày càng giữ vị trí và vai trò quan trọng trong đời sống chính trị, xã hội của đất nước. Đại biểu Ngô Văn Minh, đoàn Quảng Nam nêu thực tế, đi đến đâu cũng thấy các cụ tha thiết đề nghị như vậy và căn cứ thể chế chính trị nước ta thì quy định đó là cần thiết. Đại biểu Nguyễn Thị Nga, đoàn Hải Dương cho rằng với số lượng đông đảo và phẩm chất, khả năng của người cao tuổi thì cần coi Hội là tổ chức chính trị- xã hội. Nhưng cũng có những ý kiến cho rằng phải cân nhắc kỹ. Đại biểu Nguyễn Thanh Thủy, đoàn Bình Định cho rằng, việc nuôi dưỡng người cao tuổi thường thực hiện ở gia đình, không nên ràng buộc trách nhiệm của họ với hệ thống chính trị, chỉ nên xác định Hội là tổ chức xã hội.
Về hệ thống tổ chức của Hội Người cao tuổi, một số ý kiến đề nghị nên quy định tại Điều lệ của Hội. Đại biểu Trần Ngọc Vinh, đoàn Hải Phòng nêu ý kiến không nên hình thành tổ chức cồng kềnh ở các cấp. Nhưng nhiều ý kiến cho rằng tổ chức Hội phải mạnh ở cả 4 cấp, nên cần nâng Ban đại diện cấp tỉnh, cấp huyện hiện nay thành Ban chấp hành Hội.
Rất nhiều ý kiến mong rằng, người cao tuổi được giảm giá dịch vụ khi khám bệnh, chữa bệnh, tham gia giao thông, hoạt động văn hóa, văn nghệ, thăm danh lam, thắng cảnh, di tích lịch sử văn hóa dân tộc (được giảm 20%); khi đi máy bay, tàu biển (được giảm 30%); dùng điện nước và điện thoại sử dụng tại cơ sở chăm sóc người cao tuổi không vì mục đích lợi nhuận (được giảm 30%). Nhưng một số ý kiến lại đề nghị giao Chính phủ quy định nhằm bảo đảm tính linh hoạt, phù hợp với thực tiễn trong từng thời kỳ.
Việt Ân